Trên thế giới, ung thư dạ dày đứng thứ 5 trong các bệnh ung thư thường gặp. Tại Việt Nam, ung thư dạ dày là nguyên nhân gây tử vong do ung thư đứng thứ 3 sau ung thư phổi và ung thư gan đối với nam giới; đứng thứ 3 sau ung thư vú, ung thư cổ tử cung đối với nữ giới; chiếm 13,5% trong tổng số các bệnh ung thư.

Chẩn đoán ung thư dạ dày dựa vào triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng, quan trọng nhất là nội soi dạ dày; sinh thiết làm xét nghiệm mô bệnh học. Theo các chuyên gia ung thư, để có được chẩn đoán chính xác về mô học mảnh sinh thiết là khó khăn đối với một số tuyến y tế cơ sở; chất lượng chuyên môn của khoa giải phẫu bệnh. Vì vậy, xét nghiệm tế bào học áp có độ chính xác thấp hơn so với xét nghiệm mô bệnh học, tuy nhiên xét nghiệm tế bào áp có giá trị thực tiễn quan trọng trong chẩn đoán sàng lọc bước đầu ung thư dạ dày, giúp nâng cao giá trị chẩn đoán xác định của bộ ba chẩn đoán là nội soi, mô bệnh học và tế bào học.
Từ tháng 8/2015 đến tháng 8/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Cẩm Phương cùng cộng sự Khoa Ung bướu, Bệnh viện đa khoa Vĩnh Phúc, Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện K thực hiện nghiên cứu mô tả tiến cứu báo cáo đề tài “Đánh giá kết quả xét nghiệm nội soi dạ dày, tế bào áp và mô bệnh học trong chẩn đoán ung thư dạ dày”. Đối tượng nghiên cứu là 138 bệnh nhân ung thư dạ dày được nội soi bấm sinh thiết tổn thương làm chẩn đoán tế bào học áp lam và mô bệnh học tại Bệnh viện K Trung ương.
BS Phương phân tích báo cáo, có 138 đối tượng nghiên cứu đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu, nhóm bệnh nhân nhỏ hơn 40 tuổi chiếm 6,5%; trên 40 tuổi chiếm 93,5%. Độ tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 59,3. Bệnh nhân có tuổi trẻ nhất là 26; thông thường ung thư dạ dày tăng lên sau độ tuổi 40; những trường hợp trẻ tuổi có thể do liên quan tới yếu tố môi trường và ăn uống.
Về đặc điểm vị trí tổn thương, tác giả nghiên cứu cho biết 60,5% là ở vị trí hang vị; vị trí ít gặp tổn thương ung thư là ở hành tá tràng và phình vị; chỉ có 2 bệnh nhân. Trong nghiên cứu có 2 trường hợp ung thư tá tràng, hình ảnh nội soi cho thấy tổn thương sùi loét chiếm gần toàn bộ DI, tuy nhiên kết quả xét nghiệm tế bào áp và mô bệnh học sinh thiết là u lympho ác tính không HogdKin. Tác giả lưu ý tổn thương ở tá tràng rất hiếm gặp; nếu có u tá tràng thường là u lympho.

Đối với hình thái đại thể của khối u, đa số thể loét với tỷ lệ 31,2%; loét sùi chiếm 38,4%; thể sùi chiếm 5,1%. Qua xét nghiệm nội soi, kích thước u ước lượng trong khoảng 3-5cm chiếm tỷ lệ 53%. Trường hợp u có kích thước nhỏ nhất là 1cm và lớn nhất là 7cm. Tỷ lệ u có kích thước 1-3cm chiếm 38,2%. Kích thước u sẽ giúp cho phẫu thuật viên đánh giá khả năng phẫu thuật, tiên liệu trên người bệnh.
BS Phương cho biết, có 117/138 bệnh nhân được sinh thiết 2 mảnh (84,8%). Tỷ lệ chẩn đoán đúng khi sinh thiết 3 mảnh lên tới 99,3% và 4 mảnh là 100%. Có 13 trường hợp khi nội soi nghi ngờ ung thư; khi thực hiện kết quả mô bệnh học đều là ung thư dạ dày. Các trường hợp này đều có hình ảnh tổn thương nội soi là thể loét và loét thâm nhiễm. Có 5 trường hợp qua nội soi khẳng định là lành tính nhưng kết quả mô bệnh học cho thấy là ung thư. Đặc điểm hình ảnh nội soi của các trường hợp này là tổn thương dạng loét nông, kích thước dưới 3cm, niêm mạc bờ ổ loét mềm mại. Tiền sử ở các bệnh nhân này đều có triệu chứng kém ăn kéo dài, đôi khi có nôn, buồn nôn, cảm giác ăn chậm tiêu, điều trị viêm loét dạ dày đều không giảm bệnh. Tác giả khuyến cáo, để tránh bỏ sót bệnh, sau 40 tuổi trên lâm sàng có triệu chứng nghi ngờ, nội soi có loét dạ dày cần thực hiện sinh thiết chẩn đoán sàng lọc sớm; nếu có kết quả âm tính cần điều trị nội khoa triệt để và theo dõi, kiểm tra lại qua nội soi.
Tác giả nghiên cứu báo cáo, có 136/138 đối tượng nghiên cứu được xét nghiệm tế bào áp, có kết quả phù hợp với xét nghiệm mô bệnh học, chiếm tỷ lệ 98,6%. Có 2 trường hợp xét nghiệm tế bào áp âm tính giả; đây là 2 trường hợp trên nội soi có hình ảnh ung thư biểu mô tuyến biệt hóa cao và kém biệt hóa. Phân tích lý do âm tính giả, tác giả cho biết, cả 2 trường hợp đều có ít tế bào trên lam kính, nguyên nhân có thể do khi áp quá nhẹ và ít diện áp trên lam kính; phần nữa do hình thái tế bào ung thư trong trường hợp này không điển hình, có thể do độ ác tính tế bào thấp nên gây khó khăn cho người đọc.
Có 2 trường hợp kết quả tế bào dương tính nhưng kết quả mô bệnh học lại âm tính ở lần sinh thiết đầu tiên. Qua phân tích hồi cứu, BS Phương nhận xét do kích thước đại thể 2 mảnh sinh thiết này nhỏ < 0,2cm; trong quy trình chuyển đúc bệnh phẩm, số lượng mô ung thư trên mảnh sinh thiết không nhiều nên khi cắt để được miếng sinh thiết đạt yêu cầu thường bỏ qua những lát cắt đầu tiên, trong khi tổ chức ung thư có thể nằm ở những lát cắt đầu tiên này; lý do nữa là khi cắt có thể không khai thác hết bệnh phẩm, bỏ sót tổ chức ung thư trên bệnh phẩm sinh thiết, do vậy kết quả mô bệnh học âm tính. Trong khi trên xét nghiệm tế bào áp cho kết quả dương tính rõ ràng với tế bào ung thư đa hình thái, nhân trần rời rạc, chromatin thô.
Thực hiện xét nghiệm tế bào áp dễ làm, thời gian cho kết quả nhanh hơn xét nghiệm mô bệnh học 6 ngày; nhưng nhược điểm là không phân loại chính xác thể mô học và độ ác tính; vì vậy xét nghiệm tế bào áp giúp bổ sung kết quả mô bệnh học sinh thiết trong trường hợp mảnh sinh thiết nhỏ hoặc mảnh sinh thiết có ít mô ung thư.
Anh Huy