Bệnh mạch vành ngày càng phổ biến, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong.
Để chẩn đoán, điều trị thực hiện chụp và can thiệp động mạch vành được sử dụng rộng rãi. Biện pháp can thiệp này có nguy cơ nhất định, đó là suy thận cấp do thuốc cản quang. Biến chứng này làm suy giảm chức năng thận đột ngột sau dùng thuốc cản quang trong lòng mạch. Các báo cáo cho thấy suy thận cấp do thuốc cản quang là nguyên nhân đứng hàng thứ 3 trong số các nguyên nhân gây suy thận mắc phải tại bệnh viện; tỷ lệ 5% ở bệnh nhân suy thận, nhưng xuất hiện tới 50% ở bệnh nhân suy thận và đái tháo đường. Tỷ lệ suy thận cấp cần phải lọc thận sau can thiệp động mạch vành là < 1%. Biến chứng suy thận cấp làm kéo dài thời gian nằm viện, thúc đẩy bệnh thận giai đoạn cuối, làm gia tăng tỷ lệ tử vong và chi phí điều trị.

Từ tháng 01/2016 đến tháng 01/2017, nhóm tác giả nghiên cứu Hồ Viết Lệ Diễm cùng cộng sự phòng khám FMP – Bệnh viện Quân Y 175, Bệnh viện Nguyễn Trãi TP. Hồ Chí Minh và Học viện Quân Y thực hiện nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Tìm hiểu mối liên quan giữa suy thận cấp do thuốc cản quang với một số yếu tố nguy cơ và đặc điểm bệnh nhân sau chụp và can thiệp động mạch vành qua da”. Đối tượng nghiên cứu gồm 445 bệnh nhân có chỉ định, được chụp và can thiệp động mạch vành qua da tại khoa Tim mạch can thiệp bệnh viện Tâm Đức. Đối tượng nghiên cứu tuổi từ 16 trở lên, có thể có suy thận hoặc không suy thận trước khi chụp và can thiệp. Định nghĩa suy thận cấp do thuốc cản quang là tình trạng tăng nồng độ creatinin huyết thanh > 25% so với giá trị nền trong 48 giờ sau can thiệp động mạch vành và đã loại trừ các nguyên nhân khác. Mức lọc cầu thận ước đoán nền (e GFR) được tính theo công thức Cockcroft Gault: Độ thanh lọc Creatinin HT (ml/ph) = (140 – tuổi) x cân nặng (kg)/72 x Creatinin HT (mg %).
BS Lệ Diễm báo cáo, đối tượng nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 63,5 tuổi, tỷ lệ nam chiếm 63,6%; nữ 36,4%. Có 85,8% đối tượng nghiên cứu có ít nhất một yếu tố nguy cơ suy thận cấp do thuốc cản quang. Số bệnh nhân suy thận cấp sau can thiệp là 28 trường hợp, chiếm tỷ lệ 6,3%. BS Lệ Diễm phân tích, có nhiều yếu tố liên quan đến tỷ lệ và mức độ suy thận cấp, cụ thể là tuổi cao. Tỷ lệ suy thận cấp do thuốc cản quang ở nhóm > 70 tuổi là 15 trường hợp; cao hơn nhóm ≤ 70 tuổi với OR = 2,58 (p < 0,05). Yếu tố rối loạn chức năng thận trước thủ thuật, đây là một yếu tố thúc đẩy quá trình tổn thương thận tiến triển do sự giảm đào thải chất cản quang và ngược lại chất cản quang cũng làm trầm trọng thêm tổn thương thận. Những bệnh nhân có suy tim sung huyết lớn hơn độ 3 hoặc phân suất tống máu thất trái < 50%, là những yếu tố nguy cơ độc lập của suy thận cấp do thuốc cản quang. Những bệnh nhân có bệnh đái tháo đường có tỷ lệ suy thận cấp sau can thiệp, do thuốc cản quang là 11,6% cao hơn nhóm bệnh nhân không có bệnh đái tháo đường là 4,1% (p < 0,01), OR = 3,07).
Tác giả nghiên cứu lưu ý, lượng thuốc cản quang cao cần chú ý, khi lượng thuốc cản quang ≥ 150 ml tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có suy thận cấp là 4,9%. Tác giả nghiên cứu báo cáo không tìm thấy mối liên quan giữa suy thận cấp với đặc điểm tổn thương động mạch vành và số stent được đặt. Tác giả nhận thấy nhóm bệnh nhân có nồng độ hs-TNT cao có tỷ lệ suy thận cấp sau can thiệp cao hơn nhóm bệnh nhân không tăng hs-TNT trong huyết thanh. Tác giả nghiên cứu giải thích bệnh nhân không tăng hs-TNT do không có nhiều sự biến đổi về cấu trúc mạch máu cũng như huyết động; đây là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng thận sau can thiệp.
Chúng ta biết rằng, can thiệp mạch vành qua da là một kỹ thuật dùng một loại ống thông nhỏ (catheter) để đưa một bóng nhỏ vào lòng động mạch vành bị tắc rồi nong và đặt stent (giá đỡ) để làm tái thông dòng máu. Trái với phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành cần mở lồng ngực, can thiệp động mạch vành có thể thực hiện chỉ bằng cách mở một lỗ nhỏ trên da để đưa catheter vào động mạch ở đùi hay cổ tay.
Người bệnh sẽ được gây tê tại vùng chọc nên nhìn chung, thủ thuật này không gây đau hơn một lần lấy máu làm xét nghiệm. Bệnh nhân vẫn luôn tỉnh táo trong suốt quá trình thực hiện thủ thuật. Khi chụp mạch vành, bác sĩ của bạn sẽ chỉ cho bạn động mạch vành bị hẹp/tắc, vị trí tắc nghẽn và mức độ tổn thương có cần được can thiệp nong và đặt stent hay không. Quá trình thực hiện thủ thuật thường được tiến hành trong vòng 1 giờ và phần lớn bệnh nhân có thể về nhà sau 1 – 2 ngày tính từ khi kết thúc thủ thuật.
Chụp và can thiệp nong, đặt stent động mạch vành qua da giải quyết tình trạng hẹp tắc trong động mạch vành, giúp tưới máu cho cơ tim tốt hơn trong mọi điều kiện hoạt động gắng sức của bệnh nhân và do đó, cho phép bệnh nhân có thể hoạt động trở lại mà không xuất hiện cơn đau thắt ngực. Trong trường hợp nhồi máu cơ tim, cùng với việc điều trị bằng thuốc tối ưu, thủ thuật này là một biện pháp giúp tái tưới máu động mạch vành để hạn chế bớt vùng cơ tim tổn thương do thiếu máu, đồng thời cũng giúp phòng tắc hẹp tái phát, hạn chế cơn đau thắt ngực trở lại.
Trước khi chụp hay đặt stent động mạch vành, bác sĩ sẽ giải thích cho bạn hoặc thân nhân của bạn tại sao cần thực hiện kỹ thuật này, dự kiến phương pháp tiến hành ra sao và những nguy cơ biến chứng có thể xảy ra trong quá trình thực hiện. Ngày nay, với những tiến bộ trong trang thiết bị, phương tiện hồi sức và thuốc hỗ trợ, chụp và can thiệp động mạch vành qua da đã an toàn hơn và nguy cơ của nó đã giảm đi rất nhiều. Tuy nhiên nó vẫn là một thủ thuật xâm nhập gây chảy máu và có thể xảy ra những nguy cơ nhất định.
Những nguy cơ của thủ thuật này bao gồm chảy máu, nhiễm trùng, phản ứng dị ứng với thuốc cản quang sử dụng trong khi chụp, nguy cơ tổn thương mạch máu, đột quỵ và suy thận. Ngoài ra, cũng có một tỷ lệ nhất định các stent đã đặt có thể đột ngột bị tắc lại gây ra nhồi máu cơ tim cần phải can thiệp lại hoặc làm cầu nối cấp cứu, thậm chí cả tử vong. Khả năng xảy ra tai biến hay không phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Theo thống kê của các nghiên cứu lớn trên thế giới, nguy cơ tai biến cần can thiệp cấp cứu hay tử vong liên quan đến kỹ thuật chụp động mạch vành là khá thấp (chỉ 1 đến 2%).
Hoa Phượng