Theo tác giả Trần Đăng Khoa – Vụ Sức khỏe Bà mẹ-Trẻ em, Bộ Y tế, qua nghiên cứu thực trạng tử vong mẹ năm 2015 trên toàn quốc cho thấy, tỷ số tử vong mẹ (MMR) tính trên 100.000 trẻ đẻ sống đã giảm mạnh từ mức 233 trường hợp tử vong năm 1990 xuống còn 69 trường hợp năm 2009.

Kết quả ước tính cho thấy Việt Nam có thể đạt được mục tiêu thiên niên kỷ của MDG5A là giảm MMR xuống còn 58,3/100.000 trẻ đẻ sống vào năm 2015. Một số đánh giá, ước tính của các tổ chức quốc tế gần đây cũng cho kết quả tương tự, với tỷ số tử vong mẹ ước tính trên 100.000 trẻ đẻ sống của Việt Nam vào khoảng 56,6 năm 2013, 56 năm 2014 và 54/100.000 trẻ đẻ sống vào năm 2015, thấp hơn so với nhiều nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người như Inđônêxia, Philippin; bằng khoảng 1/3 so với trung bình của khu vực ASEAN. Bởi vậy, Việt Nam là một trong các quốc gia được Liên hợp quốc đánh giá là “đạt tiến độ” trong việc thực hiện các MDG về giảm tử vong bà mẹ, trẻ em.
Qua số liệu báo cáo thống kê hàng năm và so sánh với số liệu 2 cuộc điều tra chính thức trước đây, có thể thấy tỷ số tử vong mẹ thực tế cao gấp 3-4 lần số tính toán theo báo cáo thống kê. Tỷ số tử vong mẹ ở miền núi cao khoảng gấp đôi so với con số toàn quốc và gấp khoảng 3 lần so với tử vong mẹ tại các vùng đồng bằng.

Có một điều đáng lưu ý là trong vòng 15 năm gần đây ở Việt Nam đã có sự thay đổi theo hướng giảm dần tỷ lệ tử vong mẹ do nguyên nhân trực tiếp và tăng tỷ lệ tử vong do nguyên nhân gián tiếp. Theo Điều tra tử vong mẹ 2001-2002, các nguyên nhân trực tiếp gây tử vong mẹ là 76,3% và nguyên nhân gián tiếp chiếm 23,7%. Tỷ lệ tương ứng của Điều tra 2006-2007 là 68% và 18,7%. Số liệu mới nhất (năm 2014) của Vụ Sức khỏe Bà mẹ-Trẻ em cho thấy nguyên nhân trực tiếp chiếm 59,7% và có tới 35,4% là do nguyên nhân gián tiếp. Điều này cho thấy tính hiệu quả của các can thiệp về làm mẹ an toàn, đặc biệt là các can thiệp về cấp cứu, hồi sức sản khoa được triển khai trong thời gian qua ở nước ta nhưng mặt khác cũng cho thấy sự cần thiết phải quan tâm hơn đến các can thiệp nhằm làm giảm các nguy cơ dẫn đến tử vong mẹ do các nguyên nhân gián tiếp gây ra.
Tại vùng Trung du và Miền núi phía Bắc, có 92% số tử vong được phát hiện bất thường từ ở nhà nhưng chỉ có 56,5% được chuyển đến cơ sở y tế. Lý do không chuyển do chủ quan của thai phụ và gia đình chưa thấy được mức độ nguy hiểm, phong tục tập quán của người dân đẻ tại nhà, hơn nữa điều kiện đường xá xa và đi lại khó khăn, điều kiện gia đình cũng khó khăn. Đây là những trường hợp tử vong mẹ đáng tiếc xảy ra, nếu bản thân thai phụ và gia đình quyết định ngay đưa thai phụ đi đến các cơ sở y tế để được theo dõi và xử trí kịp thời có lẽ đã không xảy ra tử vong đáng tiếc.
Phân tích theo địa điểm xảy ra tai biến cho thấy có tới 43,1% tai biến xảy ra tại nhà, và 45,1% số ca xảy ra tai biến tại bệnh viện tuyến huyện và tuyến tỉnh. Vì vậy, việc tăng cường đào tạo nâng cao năng lực cấp cứu sản khoa cũng như giám sát để đảm bảo cán bộ y tế tuân thủ đúng quy trình chuyên môn là một nhu cầu cấp thiết trong thời gian tới nhất là tuyến huyện.
Từ nghiên cứu, tác giả Trần Đăng Khoa, Vụ Sức khỏe Bà mẹ -Trẻ em có kết luận tử vong mẹ đã có xu hướng giảm và Việt Nam đạt Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ về Tử vong mẹ vào năm 2015. Trong năm 2015, có 203 trường hợp tử vong mẹ và xảy ra chủ yếu ở bệnh viện huyện 28,7%, bệnh viện tỉnh 27,8% và đẻ tại nhà 20,4%. Vùng Trung du và miền núi phía Bắc là vùng có số ca tử vong nhiều nhất so với các vùng khác trong cả nước 25,6%, sau đó là vùng Bắc trung bộ và Duyên hải miền Trung 22,7%. Vùng Trung du và miền núi phía Bắc có tỷ lệ tử vong mẹ do đẻ tại nhà cao nhất 64%, và là vùng có tử vong mẹ là dân tộc thiểu số cao nhất, gấp 5,25 lần so với người Kinh.
Bộ Y tế, các tỉnh cần phải tăng cường năng lực chuyên môn cấp cứu sản khoa cho tuyến huyện và tuyến tỉnh, đặc biệt là vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Tăng cường vận động phụ nữ có thai của vùng Trung du và miền núi phía Bắc đẻ tại cơ sở y tế.
Mai Trang