Gút là bệnh viêm khớp do rối loạn chuyển hóa, có liên quan tới tình trạng tăng acid uric máu dẫn đến sự lắng đọng các tinh thể monosodium urate ở khớp và các mô khác. Bệnh gút ngày càng trở nên phổ biến trên phạm vi toàn cầu với ước tính tỷ lệ lưu hành khoảng 1-2% dân số người lớn ở các nước phát triển và là vấn đề có tính sức khỏe cộng đồng, với gánh nặng bệnh tật ngày càng gia tăng.

Ngoài việc gây những tổn thương xương khớp, tình trạng tăng acid uric máu và lắng đọng tinh thể urate ở các còn mô gây những tổn thương có tính chất toàn thân, như làm gia tăng bệnh lý tim mạch, rối loạn chuyển hóa, bệnh lý thận mạn, suy thận, … Ngày càng có nhiều chứng cứ cho thấy tăng acid uric máu và bệnh gút là một phần của rối loạn chuyển hóa, với thực tế là nhiều bệnh nhân gút đồng thời cũng có những bệnh lý phối hợp như bệnh lý mạch vành, tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, rối loạn lipid máu. Hơn nữa, tình trạng tăng acid uric máu và bệnh gout được coi là một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với một số bệnh lý như tăng huyết áp, bệnh mạch vành, bệnh thận mạn và ngược lại việc sử dụng một số thuốc như aspirin liều thấp, lợi tiểu, ức chế beta giao cảm lại được cho là có thể góp phần làm tăng acid uric máu và tăng nguy cơ bệnh gút.
Điều trị bệnh gút hiện nay đòi hỏi sự kiểm soát bệnh một cách toàn diện, trong đó có việc khống chế một cách hiệu quả và an toàn các cơn cấp, sử dụng dài hạn các thuốc hạ acid uric máu nhằm duy trì acid uric máu mục tiêu dưới 6 mg/dL, đồng thời kiểm soát tốt các rối loạn liên quan. Mặc dù bệnh ngày càng phổ biến và có thể gây nhiều hậu quả nghiêm trọng, song trên thực tế nhiều bệnh nhân vẫn chưa được điều trị và việc quản lý và điều trị bệnh gút còn rất nhiều hạn chế và bất hợp lý, kể cả ở những nước phát triển.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, mức sống của người dân ngày càng được cải thiện, sự già hóa về mặt dân số, làm cho tỷ lệ bệnh gút thường gặp hơn, trở thành gánh nặng rất lớn cho nền y tế. Hiện nay, theo một số thống kê, gút là một trong những bệnh lý hay gặp nhất ở những bệnh nhân nội trú điều trị tại chuyên khoa cơ xương khớp. Trên thực tế lâm sàng, chúng tôi nhận thấy đa phần bệnh nhân gút đến khám và điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy chưa được điều trị, hoặc điều trị chưa đầy đủ, chưa hợp lý dẫn đến bệnh ngày càng tiến triển nặng với nhiều biến chứng như tổn thương xương khớp nặng, giảm chức năng vận động, tàn phế, loét nhiễm trùng tophi, suy thận làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người bệnh.
Từ tháng 9/2016 đến tháng 4/2017, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Đình Khoa cùng cộng sự Khoa Nội Cơ Xương Khớp, Bệnh viện Chợ Rẫy thực hiện nghiên cứu cắt ngang báo cáo đề tài “Khảo sát các bệnh lý phối hợp và thực trạng sử dụng thuốc ở bệnh nhân gút”. Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân nam hay nữ từ 18 tuổi trở lên được chẩn đoán gút theo tiêu chuẩn ACR-EULAR 2015 của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ và Liên đoàn chống thấp khớp Châu Âu, vào điều trị tại Khoa Nội Cơ Xương Khớp hoặc phòng khám Nội Cơ Xương Khớp, Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 9/2016 đến hết tháng 4/2017 và đồng ý tham gia nghiên cứu. Loại khỏi nghiên cứu những bệnh nhân bị gút thứ phát.

Tác giả nghiên cứu báo cáo có 80 bệnh nhân đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, tuổi từ 31-87; tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 58,9; đa số ở nhóm > 60 tuổi với tỷ lệ 51,2%. Tuổi là một yếu tố rất quan trọng trong chẩn đoán gút. Theo y văn thì bệnh gút thường khởi phát ở tuổi trung niên, đỉnh khởi phát là 50 tuổi. Trong nghiên cứu tuổi khởi phát trung bình là 50.5 tuổi, tuổi khởi phát lớn nhất là 80 tuổi và nhỏ nhất là 25 tuổi. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nam chiếm đa số 93,8%, chỉ có 5 bệnh nhân là nữ giới, người thấp nhất là 69 tuổi và cao nhất là 83 tuổi. Kết quả nghiên cứu cũng phù hợp với y văn. Theo nhận xét hầu hết các tác giả đa số bệnh nhân gút là nam giới, nữ giới ít gặp hơn và thường sau mãn kinh.
Tiền căn gia đình có mắc bệnh gút là 21,2%. Yếu tố gia đình có thể được coi là một yếu tố nguy cơ của bệnh gút vì ngoài yếu tố di truyền, những người sống trong cùng một gia đình thường có thói quen ăn uống, sinh hoạt giống nhau nhất là nam giới.
Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân gút có tỷ lệ cao mắc các bệnh phối hợp như tăng huyết áp, béo phì, rối loạn mỡ máu, bệnh thận mạn. Kết quả này cũng khá tương tự như kết quả một điều tra trên 3079 bệnh nhân ở Châu Âu cho thấy, tăng huyết áp là bệnh lý đồng mắc thường gặp nhất (68%), theo sau là rối loạn lipid máu (58%), béo phì 48%. Trong nghiên cứu của chúng tôi có 48 bệnh nhân có tiền căn tăng huyết áp chiếm 60%. Các tác giả đều có nhận định chung là tăng huyết áp và bệnh gút có mối liên quan với nhau. Bệnh nhân tăng huyết áp có tỷ lệ cao bị tăng acid uric máu so với người không tăng huyết áp. Do đó trong đánh giá điều trị bệnh gút cần lưu ý tới bệnh lý tăng huyết áp, đồng thời khi điều trị thuốc hạ áp cần cố gắng hạn chế sử dụng những thuốc làm tăng nồng độ acid uric trong máu như thuốc lợi tiểu.
Đái tháo đường là bệnh lý có mối liên quan tới bệnh gút. Tăng acid uric và gút có thể liên quan tới tăng khả năng mắc bệnh đái tháo đường. Trong nghiên cứu có 16,2% bệnh nhân bị đái tháo đường. Tuy nhiên tăng đường huyết này có thể do nhiều yếu tố tạo thành, đặc biệt là khi bệnh nhân đang có bệnh lý cấp tính, thì tình trạng tăng đường huyết một thời điểm có thể chỉ là do đáp ứng của cơ thể chứ chưa hẳn phản ánh tình trạng bệnh đái tháo đường thực sự.
Sự kết hợp giữa rượu bia và bệnh gút đã được nói đến từ thời cổ xưa, đó là yếu tố nguy cơ độc lập mạnh nhất đối với gút. Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ uống rượu bia thường xuyên là 86,2% ở nhóm nghiên cứu, cho thấy đây là vấn đề phổ biến ở bệnh nhân gút. Uống rượu, bia không chỉ làm tăng sản xuất urat mà còn làm giảm đào thải urat qua thận dẫn đến tình trạng tăng acid uric máu. Khi bị bệnh gút nếu bệnh nhân vẫn tiếp tục uống nhiều rượu bia thì việc điều trị sẽ ít hiệu quả hơn. Do đó việc giáo dục tuyên truyền bệnh nhân từ bỏ thói quen không tốt này cần được chú trọng.
Thừa cân hoặc béo phì là một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với bệnh gút. Béo phì làm tăng acid uric máu do tăng sản xuất và giảm đào thải acid uric ở thận. Thừa cân và béo phì là đặc điểm của dân số phát triển và những nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa BMI cao hơn 25 kg/m2 và nguy cơ gút. Chúng tôi ghi nhận ở bệnh nhân gút tỷ lệ thừa cân và béo phì lần lượt là 22,5% và 22,5%. Tuy nhiên tỷ lệ tăng vòng bụng ở nhóm bệnh là 65% cho thấy ở bệnh nhân gút có tình trạng tăng vòng bụng đáng lưu ý hơn so với nhóm khác. Các hướng dẫn đều khuyến cáo là nên đo vòng eo hơn là BMI, ủng hộ cho tầm quan trọng của béo bụng trong hội chứng chuyển hóa. Do đó khi đánh giá điều trị bệnh nhân gút, ngoài BMI thì cần thiết phải đo thêm vòng bụng.
Bệnh thận mạn thường là một nguy cơ hoặc hậu quả của tăng acid uric máu và bệnh gút. Trong nghiên cứu Bs Nguyễn Đình Khoa ước đoán độ thanh thải creatinin dựa vào creatinin máu cho thấy, trung bình độ thanh thải là 58,92+21,78 ml/phút, trong đó giảm ở mức độ nhẹ và trung bình chiếm đa số, lần lượt là 43,8% và 40% và 8 bệnh nhân (10%) giảm nặng độ thanh thải creatinin. Kết quả này cho thấy ở bệnh nhân gút có sự giảm đáng kể độ thanh thải creatinin hay nói cách khác là giảm chức năng thận.
Đức Bảo