Suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính là bệnh lý tương đối phổ biến trong cộng đồng dân cư với tỷ lệ mắc càng ngày càng gia tăng. Bệnh thường gặp hơn ở người cao tuổi đặc biệt là phụ nữ. Biểu hiện lâm sàng rất phong phú, có thể không gây ra triệu chứng gì, chỉ ảnh hưởng về mặt thẩm mỹ hoặc có thể có các biểu hiện nặng chân, chuột rút về đêm, đau chân, phù ở chân, nhiễm sắc tố da, xơ hóa da chân, eczema… và nặng hơn là loét da, tắc mạch điều trị rất khó khăn và chi phí điều trị cao.

Hiện nay trên thế giới đã áp dụng nhiều biện pháp điều trị khác nhau đối với suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính: đơn độc hoặc phối hợp tùy theo mức độ trầm trọng của bệnh và nhu cầu của người bệnh. Các biện pháp không dùng thuốc chỉ có tác dụng làm hạn chế các triệu chứng và làm chậm tiến triển của bệnh. Khi bệnh đến giai đoạn nặng hơn thì phải sử dụng các biện pháp điều trị can thiệp khác. Phương pháp điều trị can thiệp cổ điển có tính xâm lấn cao, có thể có các biến chứng do gây mê, phẫu thuật, để lại sẹo. Ngày nay đã có những phương pháp điều trị mới, trong đó laser nội mạch là phương pháp ít xâm lấn, thời gian hồi phục nhanh, ít biến chứng. Ở các nước phát triển, những phương pháp mới này đã được áp dụng từ gần 2 thập kỷ nay và có nhiều nghiên cứu đã chứng minh tính hiệu quả, ưu việt của nó. Tuy nhiên tại Việt Nam, đây là phương pháp điều trị còn khá mới mẻ, chỉ bắt đầu áp dụng vài năm gần đây ở một số cơ sở y tế lớn và còn ít nghiên cứu về vấn đề này.
Từ tháng 01/2014 đến tháng 12/2014, nhóm tác giả nghiên cứu Bùi Văn Dũng cùng cộng sự Bệnh viện Lão khoa Trung ương và Trường Đại học Y Hà Nội thực hiện nghiên cứu can thiệp không có nhóm chứng báo cáo đề tài “Kết quả điều trị ngắn hạn của phương pháp laser nội mạch trong điều trị suy tĩnh mạch hiển lớn mạn tính”.

Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân từ 50 tuổi trở lên được khám, chẩn đoán suy tĩnh mạch hiển lớn mạn tính và được điều trị bằng phương pháp laser nội mạch tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương.
Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu là trên lâm sàng có một hoặc nhiều các triệu chứng cơ bản của suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính (tức nặng chân, đau chân, ngứa chân, chuột rút về đêm, tê chân, cảm giác bỏng rát, kim châm…), triệu chứng thực thể (suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính theo phân độ lâm sàng CEAP (Clinical-Etiology-Anatomical-Pathophysiology) từ C2 đến C6, hình ảnh siêu âm Dopper mạch có vị trí tổn thương là các tĩnh mạch hiển lớn có đặc điểm thời gian dòng trào ngược tại thân tĩnh mạch > 1 giây, đường kính thân tĩnh mạch > 5mm; tĩnh mạch nằm sâu cách mặt da > 3mm, tĩnh mạch có đường đi tương đối thẳng; bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ: bệnh nhân đang có huyết khối tĩnh mạch sâu và/ hoặc nông cấp tính; có bệnh lý gây rối loạn đông máu; bị dị dạng mạch máu bẩm sinh như rò động tĩnh mạch…; bệnh lý động mạch ngoại vi; Chỉ số cổ chân/cánh tay (ABI) < 0,8; đang trong tình trạng nhiễm trùng hay đang sốt; tiền sử dị ứng với thuốc gây tê hay dị ứng với nhiều loại thuốc khác; bị suy cả tĩnh mạch khác ở chân (tĩnh mạch hiển bé, tĩnh mạch sâu, tĩnh mạch xuyên) ngoài tĩnh mạch hiển lớn.
Bác sĩ Bùi Văn Dũng báo cáo, có 38 bệnh nhân với 46 chân (tương đương 46 tĩnh mạch hiển lớn) được điều trị laser. Tuổi trung bình là 58,9 + 8,3 tuổi, dao động từ 50 – 86 tuổi. Đa số các bệnh nhân trong nghiên cứu là nữ giới (73,7%), tỷ lệ nữ/nam là 2,8/1. Chiều dài đoạn tĩnh mạch được điều trị laser trung bình là 29,6 cm + 6,3, ngắn nhất là 19cm và dài nhất là 44cm. Mức năng lượng laser dùng cho 1 cm tĩnh mạch trung bình là 67,5 J/cm (53-82J/cm).
Tác giả nghiên cứu cho biết, sau 1 tháng điều trị tỷ lệ thành công trên lâm sàng (kết quả tốt và rất tốt) đạt được ở 100%. Các triệu chứng đều giảm đáng kể so với trước điều trị. Kết quả này tương đương với tỷ lệ giảm triệu chứng sau điều trị 1 tháng trong nghiên cứu tại Việt Nam (95%).
CEAP là phân độ lâm sàng được sử dụng phổ biến nhất trong các nghiên cứu về suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính. Tuy có một số nhược điểm như phụ thuộc hoàn toàn vào quyết định của bác sĩ khi thăm khám, không phản ánh được nhu cầu cũng như tính cấp thiết phải điều trị, thiếu chính xác khi đánh giá sự tiến triển của bệnh nhưng sử dụng phân độ CEAP để đánh giá khá thuận tiện. Trong nghiên cứu sau 1 tháng điều trị phân độ C3 giảm nhiều nhất, sau đó là phân độ C2, độ C1 từ không có chân nào tăng thành 26,1% do có 10,8% từ C3 và 15,2% từ C2 chuyển thành C1. Số chân độ C4 trước và sau điều trị 1 tháng không thay đổi. Các chi ở mức độ C4 trong nghiên cứu đều là rối loạn sắc tố da dạng thâm. Đó là biến chứng lâu dài mà bệnh gây ra, do vậy 1 tháng sau điều trị là thời gian quá ngắn để có thể nhận thấy sự thay đổi của hình ảnh biến chứng này và cần phải có thời gian theo dõi nhiều hơn.
Thang điểm độ nặng suy tĩnh mạch trên lâm sàng VCSS ra đời đã khắc phục được các nhược điểm của phân độ lâm sàng CEAP. Trong nghiên cứu, tác giả đánh giá theo phân độ lâm sàng CEAP thì nhóm bệnh nhân C4 không giảm tỷ lệ so với trước điều trị, nhưng sử dụng thang điểm VCSS thì điểm VCSS trung bình giảm có ý nghĩa thống kê 54,3% so với trước điều trị. Đó chính là lý do thang điểm VSCC được sử dụng để đánh giá phối hợp với phân độ CEAP.
Hiệu quả gây tắc đoạn tĩnh mạch sau điều trị 1 tháng cho thấy 95,7% đạt kết quả rất tốt; 4,3% đạt kết quả tương đối tốt; không có trường hợp nào thất bại. Kết quả nghiên cứu tương tự như kết quả các báo cáo khác trên thế giới về điều trị suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính bằng laser nội mạch: năm 2001 báo cáo 90 ca tĩnh mạch hiển lớn điều trị với laser 810nm tại Mỹ, tỷ lệ thành công sau 6 tháng là 96% và sau 2 năm là trên 90%. Nghiên cứu tại Việt Nam 2008-2009 điều trị 95 chân, trong đó 80 bệnh nhân kết quả thành công sau 1 tháng điều trị là 100%. Hiệu quả của điều trị được BS.Dũng khẳng định thông qua đánh giá sự thay đổi các chỉ số siêu âm của đoạn tĩnh mạch hiển lớn còn lại phía dưới không can thiệp laser, kết quả tương tự như nghiên cứu tại Pháp.
Tại đoạn tĩnh mạch hiển lớn được điều trị laser sau 1 tháng, đường kính tĩnh mạch tại các vị trí đều giảm có ý nghĩa thống kê. Thời gian dòng trào ngược trung bình giảm xuống gần như không còn là 0,01 giây, đoạn tĩnh mạch hiển lớn phía dưới không điều trị laser sau 1 tháng đường kính tĩnh mạch cũng giảm có ý nghĩa thống kê. Khi một tĩnh mạch bị tắc hoàn toàn, tổ chức bên trong lòng mạch thay vì còn dòng chảy và ấn xẹp thì đã bị lấp tắc đầy bởi huyết khối và tổ chức xơ, ấn không xẹp. Cùng với thời gian những tổ chức này dần bị tiêu đi, xơ hóa, lòng tĩnh mạch co nhỏ lại và cuối cùng biến tĩnh mạch đó chỉ còn là sợi xơ nhỏ dưới da. Các nghiên cứu khác trên thế giới đều cho thấy siêu âm sau 1 tháng tĩnh mạch bị tắc hoàn toàn, không có phổ dòng chảy, sau 3 tháng kích thước tĩnh mạch nhỏ hơn so với trước, sau 1 năm tĩnh mạch teo nhỏ.
Kết luận nghiên cứu, tác giả cho rằng phương pháp điều trị laser nội mạch là một thủ thuật ít xâm lấn, an toàn, chỉ cần gây tê cục bộ, thời gian điều trị nhanh, tỷ lệ thành công cao, hồi phục nhanh, rất hiếm có biến chứng, tính thẩm mỹ cao, nên được áp dụng rộng rãi trong điều trị suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính.
Hữu Lai