[Đăng ngày: 08/02/2017]
Các báo cáo về tim mạch cho thấy tại Mỹ tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa là khoảng 25%; đối với các nước ở Châu Á, tỷ lệ này khoảng 8-14%.
Hội chứng chuyển hóa (HCCH) là một tập hợp các rối loạn về chuyển hóa với tỷ lệ mắc trong dân số khá cao. Mỗi thành tố của HCCH đều góp phần thúc đẩy tiến trình xơ vữa mạch và dẫn đến nhiều biến cố tim mạch. Chính vì thế, việc đánh giá nguy cơ xơ vữa mạch ở những đối tượng này là hết sức cần thiết. Gần đây có nhiều kỹ thuật được áp dụng để đánh giá tình trạng xơ vữa mạch sớm và được xem là chất chỉ điểm sinh học ở cấp độ mô học, một trong số đó là giá trị bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh. Siêu âm đo bề dày lớp nội trung mạc là một phương tiện khá an toàn và đã được chứng minh là có ý nghĩa trong việc dự báo nguy cơ tim mạch.
Tác giả nghiên cứu Trần Viết An và cộng sự Trường Đại học Y Dược Cần Thơ tiến hành nghiên cứu đề tài “Tương quan giữa bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh chung và các yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân hội chứng chuyển hóa”.
Đối tượng nghiên cứu là 122 bệnh nhân HCCH được chẩn đoán HCCH theo NCEP ATP III khi có ít nhất ba trong năm tiêu chí: 1) vòng bụng > 102 cm ở nam hoặc >88cm ở nữ. 2) Triglycerides > 150 mg/dL. 3) HDL cholesterol < 40 mg/dL ở nam hoặc < 50 mg/dL ở nữ (hoặc đã được điều trị cho 2 rối loạn lipit máu này). 4) Huyết áp tâm thu > 130 mmHg hoặc huyết áp tâm trương > 85 mHg hoặc tăng huyết áp đã được chẩn đoán trước đó. 5) Glucose máu lúc đói > 110 mg/dL hoặc đái tháo đường đã được chẩn đoán trước đó.
Theo tác giả nghiên cứu, siêu âm Doppler động mạch cảnh được thực hiện bằng máy Siemens AcusonX300 đầu dò Linear 7,5-12 MHz. Đo IMT (Intima- Media Thickness) động mạch cảnh chung phải tại vị trí trước chỗ chia đôi 1 cm; trên mặt phẳng cắt dọc, động mạch chủ bình thường được biểu thị bằng 2 đường thẳng song song, mỗi đường thẳng là hình ảnh cắt dọc một mặt của thành động mạch gồm 3 lớp hồi âm: 1) ranh giới ngoài cùng là lớp tăng âm và tương đối dày, được xem như là lớp áo ngoài hòa lẫn vào mô liên kết xung quanh; 2) lớp kế tiếp là lớp giảm âm, lớp này tương đối mỏng được xem là lớp áo trong và áo giữa của thành mạch; 3) lớp trong cùng là lớp mỏng nhất, tăng âm, lớp này được xem như hồi âm của mặt phân cách giữa lòng mạch và bề dày nội mạc. Đo khoảng cách từ đường tăng hồi âm thứ hai đến khoảng phân giới giữa đường giảm hồi âm và đường tăng hồi âm thứ nhất gọi là bề dày lớp nội trung mạc động mạch chủ. Bề dày lớp nội trung mạc được gọi là tăng khi > 1,1 mm.
Theo phân tích của tác giả Trần Viết An, có mối liên quan giữa IMT động mạch cảnh chung với một số yếu tố nguy cơ; đó là tuổi, huyết áp tâm thu, số năm mắc tăng huyết áp. Ở nhóm bệnh nhân có số năm mắc tăng huyết áp trung bình 5,56 năm có IMT không tăng; nhóm bệnh nhân có số năm mắc tăng huyết áp trung bình 8,02 năm có tăng ITM (p=0,004). Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự tương quan giữa ITM động mạch cảnh chung với các chỉ số đánh giá rối loạn đường huyết; tác giả giải thích có thể do nghiên cứu thực hiện tại Bệnh viện, giá trị đường huyết phản ánh đúng mức giá trị thực của mức đường huyết hàng ngày của bệnh nhân do những thay đổi trong điều trị.
Tác giả Trần Viết An cũng báo cáo kết quả nghiên cứu không ghi nhận có sự tương quan giữa IMT động mạch cảnh chung với các thành phần lipit máu, có thể do ảnh hưởng của việc điều trị với tỷ lệ dùng thuốc Statin, thuốc này đã có thể giúp cải thiện các thông số về rối loạn lipit máu. Tác giả nghiên cứu lưu ý, ở bệnh nhân hội chứng chuyển hóa, chỉ số khối cơ thể BMI không là tham số tốt để đánh giá tình trạng béo phì do nó không tương đồng với lượng mỡ tạng mà mỡ tạng đóng vai trì quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của hội chứng chuyển hóa, đồng thời HCCH có tỷ lệ mắc tăng theo tuổi, tuổi càng cao mô nạc giảm và mô mỡ tăng, tuy nhiên BMI không giúp phân biệt sự gia tăng của nó là do mô nạc hay mô mỡ.
Tác giả Trần Viết An kết luận, bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh chung có tương quan với tuổi (p<0,001), số năm tăng huyết áp (p<0,05), huyết áp tâm thu (p<0,05), vòng eo (p<0,05), vòng eo/ vòng mông (p<0,001) và không tương quan với huyết áp tâm trương, số năm đái tháo đường, đường huyết lúc đói, HbA1c, cholesterol toàn phần, triglycerid, HDL cholesterol, LDL cholesterol, BMI, CRP-hs.
Theo PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn- Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội, hiện nay chúng ta đang đối mặt với sự bùng nổ các bệnh tăng huyết áp, bệnh động mạch vành, tai biến mạch máu não, bệnh động mạch chủ; các bệnh liên quan đến rối loạn chuyển hóa như rối loạn lipit máu, đái tháo đường, hội chứng chuyển hóa. Gần đây, xuất hiện một thuật ngữ mới “Các bệnh tim mạch chuyển hóa” ảnh hưởng đến sức khỏe, tuổi thọ của người bệnh.
Chế độ ăn uống quá nhiều năng lượng và thói quen lười vận động là nguyên nhân chính dẫn đến thừa cân, béo phì và HCCH ở hầu hết các bệnh nhân. Một khảo sát của Viện Dinh dưỡng Quốc gia, tỷ lệ béo bụng ở người trưởng thành ở nước ta là 7,7% cao hơn so với tỷ lệ chung về béo bụng của các nước trong khu vực là 6,6%. Những người thừa cân, béo phì và rối loạn chuyển hóa thường có tăng lượng Cholesterol xấu (LDL-C); giảm lượng Cholesterol tốt (HDL-C) và tăng trighyceride máu, tăng huyết áp, đái tháo đường…làm ảnh hưởng đến sức khỏe tim mạch.
Đối với bệnh nhân đái tháo đường, bệnh đái tháo đường gây xơ vữa các động mạch lớn hơn những người không bị đái tháo đường và bệnh vi mạch đặc trưng bởi tăng độ dày của màng đáy mao mạch. Đối với bệnh tăng huyết áp, điều trị tăng huyết áp giúp làm giảm rõ rệt nguy cơ tim mạch lâu dài.
Như vậy, tập hợp các triệu chứng gồm béo bụng, tăng huyết áp, rối loạn dung nạp glucose và các đặc điểm rối loạn lipit máu gây xơ vữa động mạch (tăng triglycerid máu, HDL-cholesterol thấp và LDL-cholesterol nhỏ, đậm đặc), đặc trưng cho tình trạng gọi là HCCH. Các nghiên cứu dịch tễ học lớn đã chứng minh có tăng tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành và do tất cả các nguyên nhân có liên quan HCCH. Hội chứng chuyển hóa như một điều trị thứ cấp sau khi đã kiểm soát được nồng độ LDL-cholesterol. Các nghiên cứu cũng lưu ý cần điều trị các nguyên nhân nền gây ra HCCH như thừa cân, béo phì, không vận động thể lực, xử trí tốt các yếu tố nguy cơ tim mạch, bệnh tăng huyết áp.
Trần Hưng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 214

Số lượt truy cập: 9360294

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang