[Đăng ngày: 11/01/2016]
Ung thư phổi là bệnh ung thư thường gặp nhất. Tại Việt Nam, ung thư phổi chiếm vị trí hàng đầu cùng với ung thư gan, nam giới nhiều gấp 2,5 lần so với nữ giới. Hút thuốc lá là nguyên nhân chủ yếu. Ung thư phổi thường gọi là ung thư phế quản hay cuống phổi vì bệnh xuất phát từ mặt trong của cuống phổi nhỏ.
Ung thư phổi khó phát hiện sớm. Bệnh xuất hiện như một hạt xơ cứng, ung thư lan dần đến các cuống phổi khác rồi xâm lấn đến vùng rốn phổi. Ung thư phổi di căn xa đến xương, gan, thượng thận và não. Ở giai đoạn mới mắc bệnh, triệu chứng ung thư phổi rất mập mờ dễ nhầm lẫn với bệnh khác, có thể không có triệu chứng đặc hiệu. Khi bệnh nhiều hơn, có thể có các triệu chứng nặng ngực, thở thấy nặng nặng, người bệnh than thở “sao cứ cảm đi cảm lại hoài”. Ho húng hắng, dai dẳng khác với cơn ho cảm thường, nhất là ở người có tuổi cao và hay hút thuốc lá. Về sau triệu chứng đau vai, đau lưng thường xuyên, thở sâu thấy nặng hơn, ho ra máu, hơi thở ngắn đi, khàn tiếng, viêm thanh quản lặp đi lặp lại, đàm dính máu, phù mặt cổ, thở khó. Sụt cân vô cớ, không thèm ăn, hay mệt mỏi là những triệu chứng báo động. Ung thư phổi được chẩn đoán bằng chụp Xquang phổi, chụp cắt lớp điện toán CT, MRI; làm sinh thiết khối bướu bằng FNA xuyên da qua thành ngực với CT hướng dẫn; nội soi phế quản. Cho đến nay phẫu thuật là phương pháp cơ bản được lựa chọn hàng đầu trong điều trị ung thư phế quản nguyên phát ở giai đoạn sớm. Tác giả Nguyễn Thị Thanh Mai cùng cộng sự Bênh viện K Hà Nội đã báo cáo nghiên cứu “Đánh giá phục hồi chức năng thông khí phổi bằng vỗ rung và tập thở sau phẫu thuật cắt thùy phổi trong ung thư phế quản” tại Hội nghị khoa học phòng chống ung thư toàn quốc.
Phẫu thuật cắt thùy phổi hoặc cắt toàn bộ một lá phổi kèm theo nạo vét hạch vùng đều là những phẫu thuật phức tạp, nhiều nguy cơ cao, tỷ lệ biến chứng và tử vong cao từ 2-6%. Đây là phẫu thuật liên quan trực tiếp đến hai chức năng sống quan trọng là hô hấp và tuần hoàn, việc thực hiện thăm dò chức năng hô hấp trước và sau mổ là rất quan trọng. Thực hiện thăm dò này giúp đánh giá khả năng cắt bỏ thùy phổi cũng như khả năng phục hồi của các thùy phổi còn lại đảm bảo dung tích thở, cung cấp oxy cho cơ thể. Sau phẫu thuật cắt một thùy phổi dung tích trao đổi oxy bị giảm đi đột ngột, kèm theo sự tắc nghẽn đường thở do phù nề làm tăng tiết dịch, nhiều khi dẫn tới suy hô hấp làm ảnh hưởng khả năng phục hồi, cũng như thời gian sống thêm của người bệnh. Mục tiêu nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Mai là đánh giá khả năng phục hồi sau phẫu thuật cắt thùy phổi của bệnh nhân ung thư phế quản nguyên phát từ đó có kế hoạch theo dõi, tiên lượng bệnh và dự phòng nguy cơ tai biến có thể xảy ra.
Nghiên cứu được tiến hành trên 105 bệnh nhân sau phẫu thuật cắt thùy phổi tại khoa Phẫu thuật lồng ngực từ tháng 2-6/2012. Tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phế quản nguyên phát từ chẩn đoán giải phẫu bệnh. Trước phẫu thuật 5 ngày bệnh nhân được đo chức năng hô hấp. Sau khi được phẫu thuật 24 giờ, bệnh nhân được ngồi dậy, vận động nhẹ nhàng tại giường, trở mình, xoa bóp hướng dẫn bệnh nhân tập thở sâu, ho khạc để tống đờm, chất dịch xuất tiết và các chất bẩn ứ đọng ra khỏi cơ thể. Người bệnh được uống nhiều nước, sử dụng máy khí dung bằng các thuốc chống viêm hoặc nước muối sinh lý 0,9% làm ẩm niêm mạc hô hấp và làm mềm các chất dịch ứ đọng.
Theo tác giả nghiên cứu, ho hữu hiệu là kỹ thuật đầu tiên người bệnh phải làm với sự hướng dẫn tỉ mỉ của người điều dưỡng. Đầu tiên người bệnh phải hít vào thật sâu để có áp lực đẩy các chất dịch ứ đọng trong các tiểu phế quản. Sau đó bằng các động tác ho khạc sâu, kéo dài đẩy các chất dịch đã bong tống ra ngoài. Đối với các vỗ rung và tập thở, người bệnh được vỗ rung và tập thở 3 lần/ngày, mỗi lần 15-30 phút trong thời gian từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 10 sau mổ. Tư thế người bệnh có thể nằm hoặc ngồi tùy thuộc tình trạng người bệnh, tuy nhiên tư thế ngồi được sử dụng hiệu quả nhất. Vỗ đúng cách, người điều dưỡng đứng bên cạnh người bệnh, dùng hai tay khum lại vỗ mạnh vào vùng lưng và hai bên sườn bệnh nhân, tùy mức độ và thể trạng của người bệnh để có lực vỗ phù hợp. Lòng bàn tay tạo nên một đệm không khí giữa tay và thành ngực, khi vỗ, tay mềm mại, nhẹ nhàng, tạo một lực cơ học vừa phải để làm bong đờm dịch và các chất ứ đọng. Sau một đợt vỗ hướng dẫn người bệnh ho hữu hiệu để tống đẩy các chất bẩn bong ra ngoài.
Kỹ thuật rung làm sau vỗ hoặc xen kẽ, chỉ làm vào thời kỳ người bệnh thở ra. Hai tay người điều dưỡng đặt chồng lên nhau trên thành ngực tương ứng với tổn thương ở phổi, cẳng tay và khuỷu tay của người điều dưỡng luôn thẳng. Hướng dẫn người bệnh hít vào một hơi và khi người bệnh thở ra thì ấn đẩy, rung vào thành ngực tạo rung cơ học ấn đẩy đờm dịch vừa được bong di chuyển về phía phế quản lớn từ đó ho hữu hiệu sẽ đẩy đờm ra ngoài.
Đối với tập thở bụng (thở hoành), người điều dưỡng hướng dẫn người bệnh hít sâu vào từ từ bằng mũi, bụng phình ra, giữ hơi trong 5 giây, bụng phình và cứng, sau đó thở ra qua miệng, bụng thót lại dần theo nhịp thở ra, thở ra tối đa nhằm tống hết lượng khí cặn trong phổi. Tập thở sâu, tăng dần mỗi ngày và không quá sức. Thở bụng giúp người bệnh tăng cường tống thải đờm dịch, dẫn lưu hiệu quả, tăng thông khí, tăng trao đổi oxy, giúp người bệnh đỡ khó thở và nhanh hồi phục hơn. Tập thở bụng cần được duy trì lâu dài sau đó và ngay cả khi người bệnh ra viện, đây là biện pháp ngăn ngừa viêm nhiễm, chống dính hiệu quả sau này. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Mai cho thấy trong 105 đối tượng nghiên cứu, người cao tuổi nhất 73; người trẻ nhất là 27 tuổi; tuổi trung bình là 58,6; số bệnh nhân nam giới gấp 4 lần so với nữ giới.
Sau cắt thùy phổi, người bệnh được vỗ rung và tập thở theo dõi sau mổ cho kết quả: dung tích sống thở mạnh (FVC) sau mổ cắt thùy phổi tại thời điểm 5 ngày giảm 46,6%; 10 ngày sau đã tăng lên chỉ còn giảm 36%; sau một tháng giảm 34,3% so với trước mổ. Thể tích thở tối đa trong giây đầu tiên (FEV1) sau mổ cắt thùy phổi 5 ngày giảm 36,2%; 10 ngày giảm 34,3%; sau một tháng giảm 32,3%.
Sau khi tập thở và vỗ rung thì FVC, FEV1 tăng lên rõ rệt sau thời điểm một tháng. Liệu pháp tập thở, vỗ rung có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phục hồi của người bệnh, giảm biến chứng viêm dính phổi, giảm thời gian nằm viện, tác giả nghiên cứu nhấn mạnh./.      
Nghi Anh
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 141

Số lượt truy cập: 9370108

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang