
Nuôi dưỡng qua ống thông dạ dày là một phương pháp thường được sử dụng để hỗ trợ dinh dưỡng cho bệnh nhân nặng ở các bệnh viện. Đây là giải pháp hữu hiệu giúp bảo vệ chức năng đường ruột, tế bào lympho tại ruột được duy trì tốt hơn, giảm nguy cơ nhiễm trùng, phù hợp với sinh lý, an toàn và ít biến chứng hơn so với nuôi dưỡng đường tĩnh mạch, vì vậy nuôi dưỡng qua ống thông thường được ưu tiên chọn lựa để nuôi dưỡng bổ sung hoặc thay thế cho phương pháp nuôi dưỡng qua đường miệng khi phương pháp này bị hạn chế hoặc không thể thực hiện được trong khi đường tiêu hóa vẫn còn hoạt động.
Tại nhiều nước trên thế giới đã có rất nhiều sản phẩm thương mại dạng dung dịch có đậm độ năng lượng để nuôi dưỡng qua ống thông cho bệnh nhân. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây có một số sản phẩm dinh dưỡng nhập ngoại pha chế thành dung dịch nuôi dưỡng qua ống thông, được một số bệnh viện sử dụng. Nhằm sử dụng những thực phẩm tự nhiên sẵn có, thường được dùng làm thức ăn thông thường tại hầu hết các địa phương ở Việt Nam, sản phẩm đảm bảo chất lượng và đáp ứng được nhu cầu nuôi dưỡng cho bệnh nhân với giá thành thấp để đáp ứng cho đại đa số bệnh nhân.
Từ tháng 1-7/2015 ThS. Nguyễn Thùy Châu đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả dinh dưỡng của dung dịch cao năng lượng tự chế qua ống thông dạ dày”.
Dung dịch cao năng lượng tự chế tại bệnh viện có thành phần dinh dưỡng chính trong 1.000ml dung dịch là: Năng lượng 1080 Kcal/1.000 ml dung dịch; Protein: 48,7 gam chiếm 18,1% tổng năng lượng; Lipid: 40,1 gam chiếm 33,4% tổng năng lượng; Glucid: 128,4 gam chiếm 48,5% tổng năng lượng.
Có 60 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, tuổi từ 18 trở lên, được xác định cân nặng; đối tượng nghiên cứu có chỉ định nuôi dưỡng qua ống thông trong vòng 24 giờ và sau 24 giờ tính từ khi vào viện. Những bệnh nhân có tham gia nuôi dưỡng qua ống thông bằng dinh dưỡng cao năng lượng tự chế sử dụng ≥ 7 ngày cũng được chọn mời vào tham gia nghiên cứu.
Phương pháp và tốc độ nuôi dưỡng qua ống thông dạ dày được tính từ khi bắt đầu nuôi dưỡng qua ống thông đến thời điểm đánh giá là 7 ngày. Thời điểm bắt đầu cho ăn được chia làm 2 nhóm nghiên cứu: Nhóm nghiên cứu 1 nuôi dưỡng trong vòng 24 giờ tính từ lúc nhập viện; Nhóm nghiên cứu 2 nuôi dưỡng từ sau 24 giờ tính từ lúc nhập viện. Sử dụng phương pháp nuôi dưỡng nhỏ giọt ngắt quãng có thời gian ngừng nuôi giữa các bữa ăn qua ống thông khoảng 30 phút đến 1 giờ hoặc bơm từng bữa qua ống thông để nuôi dưỡng bệnh nhân. Chỉ định liều lượng dung dịch nuôi: Số lượng dung dịch nuôi dưỡng bệnh nhân hàng ngày được chỉ định dựa theo nguyên tắc cho ăn tăng dần và căn cứ vào 3 chỉ tiêu: Cân nặng; Nhu cầu bệnh lý; Khả năng dung nạp của bệnh nhân. Trong quá trình nuôi dưỡng, số lượng dung dịch nuôi dưỡng sẽ được chỉ định tăng lên hoặc giảm đi tùy thuộc vào diễn biến của bệnh trên lâm sàng.
Các chỉ tiêu theo dõi đánh giá trên lâm sàng gồm mạch, nhiệt độ, huyết áp, trạng thái thần kinh, tình trạng nhiễm trùng, đánh giá khả năng dung nạp đối với dinh dưỡng nuôi dưỡng tiêu hóa, trọng lượng cơ thể trước khi nuôi dưỡng qua ống thông và ngay khi ngừng nuôi dưỡng qua ống thông. So sánh cân nặng hiện có với cân nặng trước khi bị bệnh. Bệnh nhân được đánh giá tình trạng dinh dưỡng dựa theo phân loại SGA (Subjective Assessment) trong đó yếu tố sút từ 5-10% cân nặng trở lên.
Đối với chỉ tiêu theo dõi Cận lâm sàng gồm protein máu toàn phần, Albumin huyết thanh được xét nghiệm 2 lần vào thời điểm nuôi dưỡng và thời điểm đánh giá qua ống thông.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 60 đối tượng nghiên cứu đủ tiêu chuẩn tham gia; nam giới 39 người (65%). Tuổi trung bình là 66,8; thấp nhất là 18 tuổi, cao nhất là 92 tuổi. Tỷ lệ người có độ tuổi > 60 chiếm nhiều nhất 65%; nhóm dưới 30 tuổi chỉ có 5% thấp nhất.
Đối với tình trạng dinh dưỡng khi nhập viện theo phân loại SGA, ThS. Châu cho biết nhóm nghiên cứu 1 (30 người) và nhóm nghiên cứu 2 (30 người) ở mức độ suy dinh dưỡng vừa chiếm tỷ lệ 91,6%; trong đó tỷ lệ suy dinh dưỡng ở mức độ nặng chiếm 6,7%, tình trạng dinh dưỡng tốt chỉ có 1,7%.
ThS. Nguyễn Thùy Châu đã có một số kết luận cho nghiên cứu đó là dung dịch tự chế hoàn toàn phù hợp với bệnh nhân về mặt tiêu hóa hấp thu. Không có bệnh nhân nào có biểu hiện rối loạn tiêu hóa, nôn. Bệnh nhân có sự dung nạp tốt đối với khẩu phần ăn trong thời gian nuôi dưỡng đạt 80% - 90%, với khẩu phần ăn 200 - 250 ml/bữa và duy trì số lượng 250ml/bữa x 6 bữa/ngày cho đến khi kết thúc giai đoạn nuôi tương đương 1.500 – 1.700Kcal/ngày. Sau thời gian nuổi dưỡng qua ống thông, tỷ lệ bệnh nhân thiếu năng lượng trường diễn với chỉ số khối cơ thể BMI < 18,5 ở cả 2 nhóm có giảm nhưng chưa ở mức có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Tỷ lệ bệnh nhân có chỉ số BMI bình thường được nuôi dưỡng qua ống thông bằng dung dịch tự chế tại thời điểm đánh giá tăng lên rõ rệt. Trong đó nhóm NC1 70%, nhóm NC2 73,3%. Các chỉ số protein máu toàn phần và albumin huyết thanh có sự thay đổi sau thời gian nuôi dưỡng qua ống thông.
Nghiên cứu khuyến nghị khuyến khích bệnh viện áp dụng phương pháp tự chế dung dịch nuôi dưỡng qua ống thông để đảm bảo việc nuôi dưỡng bệnh nhân, góp phần chăm sóc điều trị bệnh nhân toàn diện. Nên tiến hành nghiên cứu sử dụng thêm các thực phẩm công nghiêp khác có giá trị dinh dưỡng tương đương để nuôi dưỡng bệnh nhân qua ống thông tại bệnh viện.
Tường Huân