Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới, sự cố y khoa (Medical Adverse Events) là những tổn thương làm cho người bệnh mất khả năng tạm thời hoặc vĩnh viễn, kéo dài ngày nằm viện hoặc tử vong. Nguyên nhân do công tác quản lý khám chữa bệnh hơn là do biến chứng của người bệnh. Sự cố y khoa có thể phòng ngừa được và không thể phòng ngừa được.
Thông tư số 19/2013/TT-BYT của Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại Bệnh viện, quy định các Bệnh viện thành lập hệ thống báo cáo về các sự cố y khoa.
Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Hữu Dự cùng cộng sự Trường Đại học Y Hà Nội thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Thực trạng và khó khăn khi báo cáo sự cố y khoa của Điều dưỡng, kỹ thuật viên năm 2015”. Đối tượng nghiên cứu là 232 điều dưỡng, kỹ thuật viên đang làm việc tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.

Tác giả nghiên cứu cho biết, đối tượng nghiên cứu là nữ giới chiếm đến 72,4%; Độ tuổi trung bình là 27,9. Đây là độ tuổi tốt về thể lực, tiếp thu kiến thức nhanh. Về trình độ chuyên môn, cấp đại học, sau đại học chiếm 31%; cao đẳng 22,9% và trung học 46,1%. Về vị trí việc làm, nhóm điều dưỡng, kỹ thuật viên đang làm việc tại các khoa điều trị nội trú là 52,6%. Thời gian làm việc hành chính kèm trực 24 giờ của nhóm điều dưỡng và kỹ thuật viên chiếm tỉ lệ 49,8%; chỉ có 6,5% điều dưỡng làm ca.
Tác giả lưu ý do sự thiếu nhân lực vì vậy các đối tượng nghiên cứu phải làm việc liên tục từ 24 giờ đến 28 giờ, các ngày nghỉ, ngày lễ chỉ có điều dưỡng trực làm việc đây là hai trong nhiều nguyên nhân gây ra sự cố y khoa.
Đối với hệ thống báo cáo sự cố y khoa tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, các đối tượng nghiên cứu cho biết đều được yêu cầu tham gia báo cáo khi xảy ra sự cố. Có 60,8% đối tượng nghiên cứu cho biết đã từng báo cáo về sự cố y khoa. Có 39,2% đối tượng nghiên cứu chưa bao giờ báo cáo về các sự cố y khoa đã xảy ra.
BS Dự cho rằng, việc khuyến khích nhân viên y tế tự báo cáo sự cố y khoa là hoạt động quan trọng trong hệ thống báo cáo sự cố tại các Bệnh viện; tuy nhiên để cán bộ y tế thật sự chủ động tham gia báo cáo sự cố y khoa xảy ra với người bệnh là vấn đề khó khăn mà chưa có một quy trình rõ ràng và hiệu quả. Đây là một chặng đường dài để có thể thay đổi được vấn đề này, xem đây thật sự là trách nhiệm, là nghĩa vụ phải báo cáo; việc học tập các sự cố đã xảy ra sẽ giúp phòng ngừa các sự cố trong tương lai là một trong 11 chủ đề về An toàn người bệnh được Tổ chức Y tế thế giới khuyến nghị đưa vào chương trình đào tạo và thực hiện tại tất cả các cơ sở đào tạo y khoa, cơ sở y tế, đồng thời đào tạo liên tục cho toàn bộ nhân viên y tế.
Kết quả trong nghiên cứu BS Dự báo cáo, có 25,9% đối tượng nghiên cứu đồng ý cần báo cáo đến Lãnh đạo Bệnh viện khi có sự cố y khoa; có 76,7% cho rằng chỉ cần báo cáo Lãnh đạo Khoa để rút kinh nghiệm nội bộ; có 18,1% cho rằng chỉ cần nói chuyện với đồng nghiệp; có 2,2% cho là không cần báo cáo sự cố y khoa.
BS Dự nhận xét, tỉ lệ đối tượng nghiên cứu báo cáo sự cố đến nhà quản lý thấp vì vấn đề sự cố y khoa là vấn đề được cho nhạy cảm và nghiêm trọng, hầu hết chỉ mới xử lý nội bộ tại khoa, không công bố rộng rãi.
Theo quy định của Bộ Y tế, quy trình báo cáo sự cố y khoa cần phải được công bố rõ ràng và thuận tiện cho người thực hiện báo cáo. Có nhiều hình thức báo cáo như email, fax, thư tín, điện thoại, các mẫu báo cáo có sẵn, viết tay. Hệ thống tiếp nhận báo cáo sự cố càng thuận tiện, càng khuyến khích được nhân viên y tế tham gia thực hiện.
Tác giả nghiên cứu cho rằng, thói quen quy trách nhiệm cá nhân mỗi khi sự cố xảy ra đã làm giảm tính tích cực của hoạt động tự báo cáo, khi mà mỗi cá nhân báo cáo sẽ có thể bị xem là người gây ra sự cố. Có 27,6% đối tượng nghiên cứu sợ bị buộc tội khi báo cáo sự cố y khoa; có 34,1% sợ bị ảnh hưởng đến đồng nghiệp.
Tác giả cho rằng cần phải thay đổi phương pháp đánh giá một vấn đề, từ cách tiếp cận cá nhân sang cách tiếp cận hệ thống để phân tích chính xác sai sót do những nguyên nhân nào và loại bỏ sự sợ hãi, lo lắng bị chỉ trích, quy chụp lỗi của mỗi cá nhân trong sự cố y khoa.
BS Dự lưu ý, quy trình báo cáo chưa hoàn thiện cũng làm giảm khả năng thu thập thông tin về các sự cố y khoa. Có 48,7% đối tượng nghiên cứu không báo cáo sự cố y khoa do họ không biết báo cáo theo hình thức nào; có 12% cho rằng Bệnh viện chưa có quy định phải báo cáo. Tác giả nghiên cứu đề xuất Bệnh viện cần phát triển đầy đủ hệ thống báo cáo sự cố y khoa và hoàn thiện những quy định về khen thưởng hoặc kỷ luật với những cá nhân liên quan đến sự cố y khoa.
Tác giả báo cáo có 20,3% đối tượng nghiên cứu không nhận thức được khái niệm và phân nhóm về sự cố y khoa, do vậy làm hạn chế khả năng tự báo cáo của đối tượng nghiên cứu. Tác giả đề xuất cần đào tạo liên tục về an toàn người bệnh và sự cố y khoa để giúp cải thiện kiến thức, thái độ về sự cố và thực hiện báo cáo sự cố y khoa theo quy định.
Tác giả cũng cho biết theo Tổ chức Y tế thế giới và Bộ Y tế những khó khăn của điều dưỡng, của kỹ thuật viên khi báo cáo về sự cố y khoa là sợ bị buộc tội và quy kết trách nhiệm cá nhân; sợ ảnh hưởng tới uy tín cơ sở y tế, thành tích của khoa phòng; không có quy trình báo cáo, không có công cụ phục vụ báo cáo và cuối cùng là không nhận diện được sự cố y khoa.
Nguyên Khải