{1}
##LOC[OK]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
Trang chủ
Văn bản pháp luật
Văn bản Sở Y tế
Thủ tục hành chính
Danh mục TTHC của Sở Y tế
Cơ sở thực hành đào tạo
Văn kiện - Tài liệu
Hỏi/Đáp
Giới thiệu
Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Chức năng, nhiệm vụ
Quy hoạch phát triển Y tế
Thành tựu
Quá trình hình thành và phát triển
Quản lý lĩnh vực Y tế
Lĩnh vực Y
Lĩnh vực Dược
An toàn vệ sinh thực phẩm
Dân số KHHGĐ/SKSS
Bảo hiểm Y tế
Kết quả thủ tục hành chính
Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thống kê Y tế
Xã hội hóa Y, Dược tư nhân
Phòng chống dịch
Bảo trợ - Xã hội
Thông tin hành nghề
Hành nghề Y tư nhân
Hành nghề Dược tư nhân
An toàn vệ sinh thực phẩm
Tin tức - sự kiện
Y tế cơ sở
Chương trình mục tiêu
Đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Giáo dục sức khỏe
Mô hình, sáng kiến, kinh nghiệm
Cải cách hành chính
Danh mục TTHC SYT
Quy định, Chỉ đạo, Đề án
Chương trình, Kế hoạch
Tin bài, hoạt động
Báo cáo, thống kê, xếp hạng
Chuyển đổi số ngành Y tế
Nâng lực cạnh tranh (PCI)
Gương điển hình tiên tiến
Chỉ số phục vụ của SYT
Dự án đầu tư, mua sắm
Dự án
Thông tin đấu thầu
Mua sắm
Tuyên truyền VBQL-PL
Văn bản QPPL Nhà nước
Văn bản QPPL Y tế
Văn bản Sở Y tế
Công tác khác
Văn thư lưu trữ
Công khai ngân sách
Hệ thống QLCL TCVN 9001:2008
Lịch công tác tuần
Dân hỏi
Điều động, bổ nhiệm
Liên kết website
Chọn website
Thu thập số liệu mắt hột
Chỉnh phủ
Tỉnh Khánh Hoà
Sở Giáo Dục
Cục Y tế dự phòng
Cục Quản lý Khám chữa bệnh
Cục xúc tiến thương mại
Thị trường nước ngoài
Thương mại điện tử
Báo Người lao động
Báo Thanh niên
Sử dụng năng lượng tiết kiệm
Sở Kế Hoạch Đầu Tư
BQL Khu Kinh Tế Vân Phong
Đề tài khoa học
Phát hiện chẩn đoán bệnh nhân u máu thể hang trên lều
[Đăng ngày: 26/10/2016]
U máu thể hang (cavernoma) là dị dạng mạch máu não thể hang (cavernous malformation), được tạo thành bởi nhiều khoang nhỏ (tiểu thùy) giống như hình tổ ong hoặc hình quả dâu tây.
Tỷ lệ mắc u máu thể hang khoảng 0,1 – 0,8% dân số, hầu hết u máu thể hang phát triển một cách tự nhiên và nguyên nhân gây bệnh chưa rõ ràng, một số trường hợp bệnh mang tính chất gia đình. Mặc dù u máu thể hang là bệnh lành tính nhưng có thể có biểu hiện lâm sàng rầm rộ khi u máu thể hang chảy máu tạo khối máu tụ lớn, u nằm tại vị trí nhiều chức năng như bao trong, đồi thị, nhân xám trung ương…
Chẩn đoán u máu thể hang dựa vào lâm sàng và chủ yếu là trên hình ảnh cộng hưởng từ sọ não. Cộng hưởng từ sọ não không chỉ đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán u máu thể hang mà còn giúp các bác sĩ lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. Đây là phương pháp chẩn đoán hình ảnh đáng tin cậy, có giá trị cao chẩn đoán u máu thể hang, đặc biệt với những trường hợp không có triệu chứng trên lâm sàng, không thể phẫu thuật do u nằm tại vị trí sâu, vùng nhiều chức năng trong não hoặc bệnh nhân có chống chỉ định với phẫu thuật.
Từ tháng 7/2008 đến tháng 5/2015 nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Cẩm Phương cùng cộng sự Trung tâm Y học hạt nhân và ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai tiến hành nghiên cứu “Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh bệnh nhân u máu thể hang trên lều”.
Theo tác giả nghiên cứu, đây là nghiên cứu mô tả hồi cứu, thu thập dữ liệu về các triệu chứng lâm sàng và đặc điểm trên phim cộng hưởng từ sọ não trước điều trị xạ phẫu dao gamma quay. Thiết bị sử dụng là máy cộng hưởng từ 1,5 Tesla của Siemens.
Phương pháp tiến hành: Những bệnh nhân được chỉ định chụp cộng hưởng từ sọ não tại khoa chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Bạch Mai với các xung: Axial và Sagittal T1W; Axial và Sagittal T2W; Axial, Coronal và Sagittal T2 * Gradient-Echo; Flair; Axial, Coronal và Sagittal T1 Fatsat + Gadolinium. Đánh giá đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ của u máu thể hang trước điều trị: Vị trí u máu thể hang, thùy trán, thùy đỉnh, thùy thái dương, thùy chẩm, vị trí sâu trong não (não thất, đồi thị, bao trong…). Kích thước tổn thương, đo kích thước trên 3 mặt phẳng ngang, đứng ngang, đứng dọc, chọn kích thước lớn nhất của tổn thương đo được, chia nhóm kích thước thành 4 mức độ: dưới 10mm, 10-19mm, 20-30mm và trên 30mm.
Đối tượng nghiên cứu có 81 bệnh nhân được chẩn đoán xác định u máu thể hang trên lều tiểu não có chỉ định xạ phẫu dao gamma quay tại Trung tâm Y học hạt nhân – Ung bướu Bệnh viện Bạch Mai.
Theo phân tích của BS. Phạm Cẩm Phương, bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 8, lớn tuổi nhất là 79, trong đó có 3 bệnh nhân dưới 15 tuổi, tuổi trung bình là 38,5 ± 14,6. Đa số bệnh nhân trên 30 tuổi (69,9%), độ tuổi hay gặp nhất là 30-49 tuổi (45,7%). Bệnh gặp ở nam và nữ với tỷ lệ tương đương nhau.
Về lý do vào viện và biểu hiện lâm sàng thường gặp nhất là đau đầu (37%); co giật (48%). Chụp cắt lớp vi tính (CT) sọ não đóng góp đáng kể vào chẩn đoán sơ bộ u máu thể hang. Trên hình ảnh cắt lớp vi tính, u máu thể hang có hình tròn hoặc hình oval, 40-60% có calci hóa trong khối, thường không có phù não xung quanh. Tuy nhiên, độ nhạy của CT trong chẩn đoán u máu thể hang là thấp, độ đặc hiệu chỉ dao động từ 30% đến 50%, khó phân biệt với một số bệnh lý hệ thống thần kinh trung ương như: u thần kinh, đệm bậc thấp, viêm não… Cho đến nay, cộng hưởng từ sọ não là phương pháp chẩn đoán hình ảnh đáng tin cậy, tốt nhất chẩn đoán u máu thể hang, không chỉ khi có triệu chứng cấp tính về thần kinh mà còn trong các trường hợp ngẫu nhiên không có triệu chứng. Hình ảnh điển hình của u máu thể hang trên T1W và T2W là “Popcorn”, với trung tâm tăng và/hoặc giảm tín hiệu được vòng hemosiderin giảm tín hiệu bao quanh. Trên xung Gradient-Echo có giá trị và độ chính xác cao nhất trong việc phát hiện vòng hemosiderin.
Hình ảnh cộng hưởng từ sọ não giúp phát hiện 77 bệnh nhân u thể hang đơn độc, 4 bệnh nhân u máu thể hang đa ổ (2 tổn thương u máu thể hang) và 2 trường hợp có kèm theo dị dạng tĩnh mạch. Vị trí u máu thể hang gặp nhiều nhất là ở thùy thái dương (40,7%) và thùy trán (25,9%), các vị trí khác ít gặp hơn, 11,2% u máu thể hang nằm ở vị trí sâu trong não (bao trong, hạch nền, não thất…), 4 bệnh nhân u máu thể hang đa ổ, trong đó có 1 trường hợp bệnh mang tính chất gia đình (bố bệnh nhân cũng mắc bệnh).
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có gần 78% u máu thể hang chủ yếu có tín hiệu hỗn hợp trên cả T1W và T2W, 97,8% có viền giảm tín hiệu hemosiderin. Đa số u máu thể hang có biểu hiện chảy máu trong u, hiếm gặp xuất huyết rộng tại vùng quanh khối u máu thể hang. Hemoglobin và các sản phẩm thoái hóa là những chất thuận từ, thể hiện hình ảnh tương ứng với các giai đoạn chảy máu khác nhau trên cộng hưởng từ. Đặc điểm này giúp đánh giá gián tiếp sự chảy máu của u máu thể hang ở giai đoạn cấp tính hay mãn tính. Giai đoạn chảy máu cấp tính, do chứa deoxyhemglobin nên có hình ảnh dồng tín hiệu trên T1 và giảm tín hiệu trên T2; giai đoạn chảy máu bán cấp chứa sản phẩm methemoglobin nên tăng tín hiệu trên cả T1 và T2; giai đoạn chảy máu mãn tính chứa hemosiderin nên có hình ảnh giảm tín hiệu trên T1 và T2.
Tác giả Phạm Cẩm Phương nhấn mạnh, chụp cộng hưởng từ sọ não là phương pháp chẩn đoán hình ảnh đáng tin cậy, có giá trị cao chẩn đoán u máu thể hang. Hình ảnh điển hình của u máu thể hang trên cộng hưởng từ sọ não là hình tròn hoặc hình oval, kích thước nhỏ (thường dưới 3cm), trung tâm khối u có tín hiệu hỗn hợp và được bao quanh bởi viền giảm tín hiệu của hemosiderin ở ngoại vi. U máu thể hang thường hay chảy máu tuy nhiên phần lớn là chảy máu trong khối u, một số trường hợp chảy máu lan rộng ra vùng xung quanh thì sẽ gây bệnh cảnh lâm sàng rầm rộ, đặc biệt khi u nằm tại một số vị trí sâu, vùng nhiều chức năng của não bộ như bao trong, đồi thị, hạch nền…
Tác giả nghiên cứu đã có kết luận, bệnh u máu thể hang trên lều tiểu não có độ tuổi hay gặp 30-40, triệu chứng lâm sàng co giật (48,1%), đau đầu (37,1%) và tình cờ phát hiện ra bệnh (14,8%). Vị trí u thường gặp nhất là ở thùy thái dương (40,7%) và thùy trán (25,9%), có 11,2% tổn thương nằm ở vị trí sâu trong não. Đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ trên xung T1W và T2W chủ yếu là tín hiệu hỗn hợp (39,5% và 51,9%). 95,1% u máu thể hang có viền hemosiderin giảm tín hiệu xung quanh. 48,1% bệnh nhân chảy máu trên cộng hưởng từ, trong đó tất cả bệnh nhân đều chảy máu trong khối u, không có trường hợp nào chảy máu rộng xâm lấn nhu mô não xung quanh. Theo phân loại Zambraski, 47,1% dạng I và 41% dạng II. Không gặp trường hợp nào thuộc dạng 4. 97,6% u có kích thước dưới 3cm (97,6%), trong đó 58,8% kích thước u từ 10-19mm chiếm tỷ lệ cao nhất.
Hoa Phượng
Chi tiết
Các tin khác
25/10/2016:
Chất lượng cuộc sống người nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV
24/10/2016:
Chụp mạch cộng hưởng từ chẩn đoán dị dạng động tĩnh mạch não
24/10/2016:
Tình hình nhiễm giun truyền qua đất tại tỉnh Khánh Hòa
24/10/2016:
Đánh giá độ nặng của cơn hen cấp
24/10/2016:
Kết quả xét nghiệm trong điều trị vàng da tăng Bilirubin ở trẻ sơ sinh
20/10/2016:
Nhận xét đặc điểm lâm sàng bệnh nhân lọc màng bụng
17/10/2016:
Sự khác biệt về giới khi sử dụng dịch vụ y tế
16/10/2016:
Nghiên cứu chỉ số độ cứng động mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp
16/10/2016:
Khảo sát nồng độ glucagon huyết tương ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2
13/10/2016:
Điều trị tế bào gốc ở bệnh nhân thoái hoá khớp
Tìm kiếm
Văn bản Sở Y tế
THỜI TIẾT
Nha Trang
Hồ Chí Minh
Hà Nội
Đà Lạt
Đà Nẵng
Thừa Thiên Huế
Độ ẩm:
Gió:
Thống kê online
Đang online:
396
Số lượt truy cập:
9365613
SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa