
Nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Hùng Long, Phạm Đức Minh - Cục An toàn thực phẩm - Bộ Y tế và Học viện Quân Y đã báo cáo đề tài “Thực trạng ngộ độc thực phẩm tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015”.
Theo tác giả nghiên cứu, nguyên tắc và nội dung thu thập số liệu về ngộ độc thực phẩm: Căn cứ vào Quy chế Điều tra ngộ độc thực phẩm ban hành kèm theo Quyết định số 39/2006/QĐ-BYT ngày 13/12/2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế, trong đó nêu rõ quy trình, nội dung, đối tượng, phương pháp cụ thể về thu thập số liệu. Đồng thời, số liệu của y tế các địa phương thực hiện theo quy định Chế độ báo cáo và mẫu báo cáo về vệ sinh an toàn thực phẩm ban hành theo quyết định số 01/2006/QĐ-BYT ngày 09/01/2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Tác giả Nguyễn Hùng Long cùng cộng sự ghi nhận, tại Hoa Kỳ năm 1999 ước tính bệnh do thực phẩm gây ra khoảng 76 triệu ca bệnh, 325.000 ca nhập viện và 5.000 ca tử vong mỗi năm. Năm 2011 đưa ra ước tính hàng năm ngộ độc thực phẩm bệnh gây ra 47,8 triệu ca bệnh, 127.839 ca nhập viện và 3.037 ca tử vong. Tuy nhiên, do mức độ chính xác của số liệu phụ thuộc vào các yếu tố như: định nghĩa ca bệnh, hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc y tế của người dân; năng lực xét nghiệm…, nên các số liệu chỉ có thể thể hiện một phần rất nhỏ của thực trạng.
Tại Việt Nam, giai đoạn 2011-2015, hệ thống thu thập và ghi nhận ngộ độc thực phẩm ngày càng được hoàn thiện nên đã hạn chế việc bỏ sót không ghi nhận ngộ độc thực phẩm. Trong giai đoạn này, trung bình hàng năm có 170 vụ ngộ độc thực phẩm với trên 6.000 người mắc và 60 người tử vong. Ngộ độc thực phẩm giảm 20 vụ/năm so với giai đoạn 2006-2010 (trung bình 190 vụ/năm) và 30 vụ/năm so với giai đoạn 2001- 2005 (trung bình 200 vụ/năm). Tuy số người mắc và số tử vong do ngộ độc thực phẩm đã giảm nhưng chưa thay đổi nhiều so với giai đoạn trước. Đây là một thách thức lớn đối với ngành y tế.
Trên thực tế, số vụ, số ca ngộ độc thực phẩm được phát hiện, báo cáo chưa phản ánh đúng thực trạng, do hệ thống giám sát, thống kê còn chưa thật sự đầy đủ. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, đối với các nước đang phát triển, số ca mắc ngộ độc thực phẩm thực tế cao gấp 200-300 lần số ca được phát hiện và ghi nhận.
Giai đoạn 2011-2015 có tỷ lệ mắc (6,19 ca ngộ độc thực phẩm/ 100.000 dân/năm) giảm so với giai đoạn 2006-2010 (7,73 ca/100.000 dân). Tỷ lệ tử vong (0,04 ca ngộ độc thực phẩm/100.000 dân/năm) cũng giảm so với giai đoạn 2006-2010 (0,06 ca/100.000 dân/năm). Số vụ và số ngộ độc thực phẩm trong các vụ ngộ độc có xu hướng giảm đi cả về số vụ ngộ độc>30 ca mắc và số vụ ngộ độc < 30 ca mắc. Tuy nhiên, số ca mắc/vụ lại tăng lên trong giai đoạn này. Số ca mắc trung bình đối với vụ lớn là 105 ca và vụ nhỏ là 9 ca, cao hơn số liệu giai đoạn 2006-2010 998 ca/vụ lớn và 8 ca/vụ nhỏ). Tỷ lệ tử vong của vụ ngộ độc thực phẩm nhỏ (2,57%) cao hơn ngộ độc thực phẩm lớn (0,01%). Các vụ ngộ độc thực phẩm nhỏ có số ca tử vong chủ yếu xảy ra ở bếp ăn gia đình.
Phân bố các vụ ngộ độc thực phẩm theo hoàn cảnh, tình huống trong giai đoạn này tương tự như thống kê giai đoạn 2006-2010, tỷ lệ số vụ ngộ độc thực phẩm cao nhất xảy ra tại bếp ăn gia đình và bếp ăn tập thể.
Về đặc điểm địa lý, các vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra ở tất cả các vùng sinh thái trong toàn quốc, tỷ lệ số vụ/tổng số vụ trong năm tại miền núi phía Bắc cao nhất (28,8%); khu vựtc Tây Nguyên (8,2%) thấp nhất. Kết quả này cũng tương tự như thống kê ngộ độc thực phẩm giai đoạn 2006-2010.
Nhóm thực phẩm hay gặp nhất trong các vụ ngộ độc thực phẩm là thực phẩm hỗn hợp ( 56,07%), Thủy sản (11,92%), Nấm (10,86%), Thịt và sản phẩm từ thịt (7,36%). Đây chính là các loại thực phẩm thường nhiễm các căn nguyên điển hình của bệnh truyền qua thực phẩm như: vi khuẩn, virus, độc tố tự nhiên và hóa chất.
Phân bố theo nguyên nhân các vụ ngộ độc thực phẩm gần tương tự như giai đoạn 2006-2010, chủ yếu là do vi sinh vật và độc tố tự nhiên. Tuy nhiên tỷ lệ số vụ ngộ độc thực phẩm có nguyên nhân do vi sinh vật có xu hướng tăng lên (39,72% giai đoạn 2011-2015 so với 20,9% giai đoạn 2006-2010) và tỷ lệ các vụ không xác định được nguyên nhân có xu hướng giảm đi (27,34% giai đoạn 2011-2015 so với 48,0% giai đoạn 2006-2010). Điều này có thể lý giải là công tác thu thập mẫu xét nghiệm và năng lực xét nghiệm của các labo trong giai đoạn này đã được cải thiện nhiều nên đa số các vụ ngộ độc thực phẩm đều xác định được nguyên nhân. Chính vì vậy cơ cấu nguyên nhân đã được phát hiện rõ hơn và tỷ lệ phân phối giữa các nguyên nhân đã thay đổi.
Về biểu hiện ngộ độc thực phẩm, triệu chứng hay gặp nhất là buồn nôn (81,43%), nôn (82,71%), đau bụng (80,61%), tiêu chảy (67,17%). Đây cũng chính là những triệu chứng phổ biến của ngộ độc thực phẩm, giúp cho công tác chẩn đoán, theo dõi cũng như tiên lượng người bệnh bị ngộ độc thực phẩm.
Cũng theo tác giả nghiên cứu, số liệu báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2015, thực phẩm không an toàn có chứa vi khuẩn, virus, ký sinh trùng hay hóa học chất có hại, đã là nguyên nhân của hơn 200 bệnh - từ tiêu chảy đến ung thư, ngộ độc thực phẩm và các bệnh tiêu chảy qua đường nước gây tử vong khoảng 2 triệu người mỗi năm, trong đó phần lớn là trẻ em.
An toàn thực phẩm, dinh dưỡng và an ninh lương thực được gắn bó chặt chẽ. Ô nhiễm thực phẩm sẽ tạo ra một vòng luẩn quẩn của bệnh và suy dinh dưỡng, đặc biệt ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, người già và người bệnh. Bệnh truyền qua đường thực phẩm cản trở sự phát triển kinh tế xã hội do tạo gánh nặng với hệ thống chăm sóc sức khỏe và làm tổn thất các nền kinh tế quốc gia, du lịch cũng như thương mại.
Ngộ độc thực phẩm là tình trạng bệnh lý do hấp thu thực phẩm bị ô nhiễm hoặc có chứa chất độc. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới ngộ độc thực phẩm xảy ra, tuy nhiên trong thời gian qua vấn đề ngộ độc thực phẩm do sử dụng hóa chất và độc tố tự nhiên khá phổ biến và gây nhiều tử vong. Để giải quyết vấn đề này cần triển khai mạnh các biện pháp nhằm từng bước củng cố, nâng cao chất lượng hệ thống theo dõi, cảnh báo, phòng chống ngộ độc thực phẩm.
Hữu Cao