Nôn trớ là hiện tượng thức ăn vào dạ dày rồi trào ngược lên thực quản ra ngoài khi có sự co bóp của cơ trơn dạ dày, cơ hoành và cơ thành bụng. Nôn trớ thường gặp ở trẻ nhỏ dưới 6 tháng, tỷ lệ nôn trớ khác nhau. Có những nơi tỷ lệ nôn trớ ở trẻ nhỏ là 80% trong tháng đầu, có những nơi nôn trớ đến 3-4 tháng là hết. Có nơi nôn trớ không vượt quá 40% và kéo dài 6-7 tháng.
Hầu hết các báo cáo đều cho rằng nôn trớ bắt đầu giảm khi trẻ được 6-8 tháng và kết thúc trong năm đầu do đặc điểm của dạ dày chưa hoàn chỉnh: cơ tròn của tâm vị còn yếu, không khép kín được dạ dày, dạ dày nhiều khí và trẻ em thường nằm nhiều. Nôn trớ kéo dài không những ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ mà còn gây áp lực căng thẳng cho những người chăm sóc trẻ, thành viên trong gia đình. Mặc dù nôn trớ là phổ biến nhưng những báo cáo về tình trạng nôn trớ trên cộng đồng vẫn còn hạn chế.

Từ tháng 6-10/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Cao Thị Thu Hương – Viện Dinh dưỡng thực hiện điều tra cắt ngang báo cáo đề tài “Thực trạng nôn trớ ở trẻ dưới 12 tháng tuổi và cách xử lý của bà mẹ”.
Đối tượng nghiên cứu là tất cả các bà mẹ đang nuôi con nhỏ hơn 12 tháng tuổi; trẻ không bị các bệnh bẩm sinh, không có vấn đề chậm phát triển tại 3 tỉnh Nam Định, Hải Dương và Vĩnh Phúc.
Có 1620 bà mẹ tham gia nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn tình hình nôn trớ của trẻ theo bộ câu hỏi đã được thử nghiệm trước điều tra. Tác giả nghiên cứu báo cáo, nôn trớ là hiện tượng thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dưới 12 tháng. Do đặc điểm sinh lý dạ dày trẻ nằm ngang nên trẻ hay bị nôn trớ khi cho trẻ ăn no hoặc khi trẻ nuốt nhiều hơi khi bú mẹ (đặc biệt khi cho trẻ bú không đúng cách), đối với trẻ có cơ tâm vị yếu chưa khép kín thì tần xuất nôn trớ nhiều hơn. Cơ tâm vị có vai trò như van một chiều: khi thức ăn vào dạ dày, cơ tâm vị thắt lại để thức ăn không bị trào ngược lên thực quản ngay cả khi dạ dày co bóp. Khi dạ dày co bóp hoặc khi trẻ thay đổi tư thế, thức ăn trào ra ngoài, hiện tượng này gọi là hiện tượng trào ngược sinh lý. Nôn trớ trào ngược sinh lý sẽ tự hết khi trẻ lớn (khi cơ thắt tâm vị hoàn chỉnh: đóng lại khi thức ăn ở dạ dày). Mặc dù là hiện tượng sinh lý nhưng cũng gây phiền toái cho trẻ và căng thẳng cho gia đình. Trào ngược kéo dài sẽ làm trẻ chậm lên cân, thiếu máu và có thể trở thành bệnh lý (bệnh trào ngược).
Kết quả nghiên cứu của tác giả Thu Hương ghi nhận tỷ lệ trẻ < 12 tháng tuổi nôn trớ với tần xuất hàng ngày (ít nhất 1 lần) chung cho cả 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Hải Dương, Nam Định là 12,1%. Nhóm trẻ có tần xuất nôn trớ cao nhất là nhóm < 3 tháng tuổi (23,1%) và tỷ lệ này giảm dần ở nhóm trẻ lớn hơn và chỉ còn 3,8% ở nhóm tuổi 9-<12 tháng. Kết quả nghiên cứu ghi nhận trong số 1620 trẻ có 1161 trẻ đã từng có biểu hiện nôn trớ > 3 lần/tuần chiếm 71,7%.
Kết quả điều tra cho thấy: những bà mẹ có con từng bị nôn trớ cũng đã có những biện pháp xử lý như bế trẻ ở tư thế đầu cao (61,3%); chuyển chế độ ăn đặc (ăn bột hay cháo) với tỷ lệ là 6,9%. Tuy nhiên đối với trường hợp trẻ nhỏ < 6 tháng với lượng tinh bột cung cấp từ bột, cháo có thể không tốt cho hệ tiêu hóa cũng như phát triển của trẻ. Theo codex: lượng tinh bột dùng trong sữa cũng chỉ được phép không vượt quá 2% (tức là 2g/100ml) khi bổ sung hoặc có trong thành phần sản phẩm dinh dưỡng. Một số bà mẹ (2,9%) đã sử dụng thuốc chống nôn trớ, chỉ có 1,1% bà mẹ cho con uống sữa nôn trớ. Hiện nay sữa nôn trớ cũng đã có mặt trên thị trường Việt Nam (chủ yếu các thành phố lớn), là sữa của các hãng sữa nước ngoài, giá sữa cao hơn so với giá sữa dành cho trẻ bình thường. Nghiên cứu sữa nôn trớ dành cho trẻ nôn trớ đã được nhiều công ty cung cấp nguyên liệu sản xuất sữa nghiên cứu. Việc sử dụng sữa làm đặc được coi là biện pháp an toàn hiệu quả hơn dùng thuốc.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 54,2% các bà mẹ cho rằng biện pháp bế trẻ ở tư thế đầu cao mang lại hiệu quả phòng trẻ nôn trớ sau ăn. Đối với trẻ nhỏ, ngoài việc bế trẻ ở tư thế đầu cao thì bà mẹ cần biết thực hành đẩy hơi ở trong dạ dày của trẻ sau khi bú, biện pháp ép dạ dày của trẻ lên vai bà mẹ là biện pháp cơ bản đẩy hơi ở trong dạ dày (trẻ nuốt phải hơi khi bà mẹ không cho trẻ ngậm sâu quầng vú). Kết quả phỏng vấn sâu các bà mẹ cho thấy, các bà mẹ sử dụng biện pháp này chỉ đơn thuần bế trẻ ở tư thế đầu cao trong thời gian khoảng 15 phút, tuy nhiên có những trường hợp trẻ lại bị nôn trớ sau khi trẻ bú 30 phút, như vậy việc bế trẻ ở tư thế đầu cao chưa hiệu quả. Các bà mẹ sử dụng thức ăn đặc hơn cũng chỉ mang lại hiệu quả 42,5%. Như vậy có khoảng trên một nửa bà mẹ không thấy có hiệu quả bởi vì một số bà mẹ chuyển một số bữa bú mẹ hoặc ăn sữa công thức sang ăn bột, do đó những bữa trẻ không ăn bột trẻ vẫn bị nôn trớ, thậm chí khi trẻ ăn bột cũng nôn do trẻ bị nghẹn thức ăn đặc khi đang ăn. Một số bà mẹ pha thức ăn bổ sung (sữa công thức) với nước cơm, nước cháo cho trẻ uống thấy cải thiện tình trạng nôn trớ của trẻ. Việc sử dụng bột gạo cho vào sản phẩm dinh dưỡng tạo độ đặc của thức ăn dành cho trẻ hạn chế trào ngược dạ dày thực quản đã được sử dụng rộng rãi ở Bắc Mỹ trong nhiều thập kỷ trước. Điều đáng lo ngại là việc bổ sung bột gạo với hàm lượng chất bột đường (carbohydrate) vượt quá 2g/100ml hạn chế khả năng hấp thu sản phẩm dinh dưỡng đã được nghiên cứu đã được tối ưu hóa để trẻ dễ hấp thu. Tỷ lệ trẻ dùng thuốc có hiệu quả chỉ đạt 17,6%: một số bà mẹ cho rằng thuốc cần sử dụng trước các bữa ăn của trẻ, tuy nhiên trẻ ăn/bú rất nhiều bữa nên không thể tất cả các bữa trẻ bú đều được uống thuốc. Kết quả nghiên cứu cho thấy một số bà mẹ đã sử dụng sữa dành cho trẻ nôn trớ, theo các bà mẹ, sữa này không có sẵn. Chỉ có 13 trong số 1620 bà mẹ chiếm 1,1% là đã từng cho trẻ sử dụng loại sữa này. Theo đánh giá của các bà mẹ đã sử dụng sữa thì tỷ lệ hiệu quả đạt 61,5%.
Có một tỷ lệ tương đối cao 39,7% các bà mẹ dùng biện pháp vuốt ngực/lưng trẻ để phòng chống nôn trớ nhưng biện pháp này không hiệu quả hay nói cách khác hiệu quả của biện pháp này bằng không. Kết quả phỏng vấn sâu các bà mẹ cho thấy, biện pháp vuốt ngực/lưng trẻ thường được thực hiện khi trẻ bắt đầu có biểu hiện nôn trớ. Việc vuốt ngực/lưng như là phản xạ nhằm cản trở trào ngược chưa được coi là biện pháp phòng chống nôn trớ.
Như vậy tỷ lệ sử dụng các biện pháp phòng/xử lý nôn trớ (theo cảm nhận của bà mẹ) có hiệu quả hơn cả là sử dụng sữa nôn trớ. Tuy nhiên, đối tượng sử dụng sữa nôn trớ không nhiều. Nôn trớ do trào ngược ở trẻ nhỏ có thể là sinh lý nhưng có những trường hợp trào ngược bệnh lý. Đối với trào ngược sinh lý, tần xuất nôn của trẻ ít hơn và không có những biểu hiện khác kèm theo như quấy khóc, viêm đường hô hấp, khó thở … việc xác định nôn trớ trào ngược bệnh lý được xác định dựa vào đo pH hoặc sinh thiết thực quản. Hiện nay, trên cộng đồng việc sử dụng bộ câu hỏi đánh giá trào ngược dựa vào tổng số điểm trào ngược với độ nhạy và độ đặc hiệu cao cho phép tiên lượng nguy cơ trẻ bị trào ngược bệnh lý cũng đã được sử dụng rộng rãi.
BS Cao Thị Thu Hương kết luận nghiên cứu, tỷ lệ trẻ có tần xuất nôn trớ trào ngược > 4 ngày/tuần là 17,8% trong đó tỷ lệ trẻ nôn trớ trào ngược hàng ngày là 12,1% và từ 4-6 ngày là 5,7%. Nhóm trẻ dưới 3 tháng tuổi có tỷ lệ nôn trớ hàng ngày cao nhất (23,1%), tần xuất nôn trớ hàng ngày giảm xuống khi trẻ lớn và chỉ còn 3,1% ở nhóm tuổi 9-<12 tháng. Tỷ lệ các bà mẹ sử dụng biện pháp bế trẻ ở tư thế đầu cao sau khi cho trẻ ăn, chuyển chế độ ăn đặc hơn cho trẻ, cho trẻ uống thuốc nôn trớ và uống sữa nôn trớ với tỷ lệ tương ứng là 61,3%; 6,9%; 2,9% và 1,1%. Hiệu quả của các biện pháp phòng chống nôn trớ theo cảm nhận của các bà mẹ: bế trẻ ở tư thế đầu cao (54,2%); chuyển sang chế độ ăn đặc hơn (42,5%), dùng thuốc chống nôn trớ (17,6%), sử dụng sữa nôn trớ (61,5%).
Khuyến nghị của nghiên cứu là cần phân tích đánh giá tỷ lệ trẻ bị nôn trớ bệnh lý trong cộng đồng và có những nghiên cứu hiệu quả của một số biện pháp can thiệp.
Anh Huy