[Đăng ngày: 11/07/2018]
Trong nhiều năm qua, thiếu máu vẫn là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng. Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 2011 có đến 38% phụ nữ có thai (PNCT) trên toàn cầu bị thiếu máu phần lớn là ở các nước đang phát triển. Trên 50% các trường hợp thiếu máu ở phụ nữ có thai là do thiếu sắt. Thiếu máu thiếu sắt ở PNCT ảnh hưởng đến sự phát triển ở giai đoạn bào thai và tác động không tốt đến quá trình tăng trưởng sau này. 

Tại Việt Nam, thiếu sắt là bệnh khá phổ biến đặc biệt ở các vùng nông thôn. Theo tổng điều tra toàn quốc năm 2015 của Viện Dinh dưỡng, tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh đẻ là 25,5%, riêng ở miền núi là 27,9%, tỷ lệ phụ nữ mang thai thiếu máu là 32,8%, trong số đối tượng thiếu máu có 54,3% bị thiếu sắt. Dinh dưỡng của bà mẹ kém cả trước và trong khi mang thai là nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng thiếu máu sắt, việc tăng cường dự trữ sắt của người mẹ trước khi có thai giúp đảm bảo đáp ứng nhu cầu của thai nhi trong thời kỳ mang thai.

Thực phẩm là nguồn cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho con người. Đặc biệt thực phẩm có nguồn gốc động vật là cung cấp các chất dinh dưỡng có giá trị sinh học cao như sắt, kẽm, vitamin A, vitamin B12 … những chất này rất quan trọng với sức khỏe sinh sản và sự phát triển của thai nhi. Mặc dù các chất dinh dưỡng trong thực phẩm đóng vai trò rất quan trọng cho phụ nữ khi có thai, nhưng số nghiên cứu thử nghiệm bổ sung thực phẩm tự nhiên để cải thiện tình trạng vi chất của mẹ và kết quả thai nghén còn ít.

Từ năm 2012 đến 2015, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Diệp Anh cùng cộng sự Đại học Y Hà Nội, Viện Dinh dưỡng quốc gia cùng các cộng sự thực hiện nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên có đối chứng báo cáo đề tài “Hiệu quả bổ sung thực phẩm từ trước và trong khi có thai đến tình trạng dinh dưỡng sắt của phụ nữ tại huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ”.

Đối tượng nghiên cứu là phụ nữ tuổi từ 18 đến 30 tuổi, mới đăng ký kết hôn và dự định có con ngay. Tác giả chia đối tượng làm 2 nhóm, nhóm 1 can thiệp: nhóm phụ nữ được bổ sung thực phẩm giàu dinh dưỡng từ khi đăng ký tham gia nghiên cứu cho đến khi sinh; nhóm chứng: nhóm phụ nữ không được ăn bổ sung thực phẩm. Thực phẩm sử dụng trong can thiệp là những thực phẩm sẵn có tại địa phương gồm thịt lợn, gan lợn, tiết lợn, tôm, trứng vịt lộn và rau theo mùa được xây dựng thành 10 thực đơn quay vòng. Mỗi thực đơn trung bình cung cấp khoảng 15 (mg) sắt, 5 (mg) kẽm, 600 (ug) vitamin A, 9 (ug) Vitamin B12 và 400 (ug) folate. Năng lượng của khẩu phần bổ sung không vượt quá 200 Kcal/ngày.

Về tiêu chuẩn đánh giá tình trạng sắt: thiếu sắt vừa khi Tf-R > 4.4mg/L hoặc ferritin huyết thanh < 20 ug/L và không bị nhiễm trùng. Thiếu sắt nặng khi Tf-R > 8,5mg/L hoặc ferritin huyết thanh < 12 ug/L và không bị nhiễm trùng. Tiêu chuẩn đánh giá tình trạng nhiễm trùng: nhiễm trùng khi: CRP > 5mg/L hoặc AGP > 1,0g/L.

Trong khi ferritin là chỉ số đánh giá tình trạng dự trữ sắt, thì Tf-R mang thông tin về nhu cầu sắt của tế bào và tỷ lệ tăng sinh hồng cầu. Tf-R lưu thông có từ việc các thụ thể tách khỏi các nguyên hồng cầu đang hình thành, nồng độ Tf-R tăng khi nguồn cung cấp sắt cho mô tạo hồng cầu bị hạn chế. Kết quả trong nghiên cứu đã thể hiện rõ hiệu quả can thiệp dựa trên chỉ số Tf-R, với chênh lệch nồng độ Tf-R giữa thời điểm thai 16 tuần với trước khi mang thai (T16-T0) và giữa thời điểm thai 32 tuần với trước khi mang thai (T32-T0) ở nhóm can thiệp lần lượt là: -1,1 (-2,0; -0,5) mg/L và 0,4 (-0,6; 1,0) mg/L, các kết quả này đều thấp hơn có YNTK so với nhóm chứng tương ứng: -0,7 (-1,2; -0,4) mg/L và 0,7 (0,4; 1,7) mg/L lần lượt với p < 0,01 và p < 0,001.

Ferritin huyết thanh là một trong những chỉ số được sử dụng để đánh giá lượng sắt dự trữ vì ferritin liên hệ chặt chẽ với cả tổng lượng sắt dự trữ trong mô và trong tủy xương. Tuy nhiên, ferritin tăng trong trường hợp cơ thể bị viêm nhiễm mà không lệ thuộc vào tình trạng sắt. Do vậy, trong nghiên cứu đã sử dụng chỉ số CRP và AGP để loại trừ các đối tượng nhiễm trùng khi phân tích tỷ lệ thiếu sắt. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở thời điểm thai 32 tuần, đã có sự cải thiện rõ rệt ở nhóm được bổ sung thực phẩm với tỷ lệ thiếu sắt nặng (40,4%) thấp hơn có YNTK so với tỷ lệ thiếu sắt nặng ở nhóm chứng là: 69,5% với p < 0,01.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc bổ sung thực phẩm tự nhiên giàu vi chất là rất cần thiết cho phụ nữ mang thai, đặc biệt giai đoạn đầu thai kỳ khi cơ thể có sự thay đổi sinh lý, gây cảm giác nghén. Giai đoạn này với năng lượng trong khẩu phần của đối tượng còn thiếu nhiều so với NCKN, cùng với nhu cầu sắt chưa cao, thay vì uống viên sắt phụ nữ nên ăn thực phẩm có nguồn gốc động vật giàu protein và vi chất sẽ an toàn và nâng cao sức khỏe dinh dưỡng.
Kết luận nghiên cứu, tác giả cho rằng việc bổ sung thực phẩm tự nhiên trước khi mang thai cho tới khi sinh đã cải thiện tình trạng dinh dưỡng sắt ở phụ nữ trong thai kỳ. Tại thời điểm thai 32 tuần tỷ lệ thiếu sắt nặng ở nhóm can thiệp là 40,4% thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (69,5%) với p < 0,01.
Nguyên Khải

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 170

Số lượt truy cập: 9296464

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang