
Từ tháng 3/2012 đến tháng 11/2012, ThS.BS Đặng Duy Thanh đã tiến hành nghiên cứu kết quả điều trị trầm cảm ở hai xã phường của tỉnh Khánh Hòa bằng phương pháp kích hoạt hành vi. Đây là nghiên cứu can thiệp có đối chứng tại phường Phước Tân Tp. Nha Trang và xã Diên Sơn huyện Diên Khánh. Nghiên cứu có 2 mục tiêu là mô tả thực trạng rối loạn trầm cảm của bệnh nhân ở hai xã phường của Khánh Hòa; và đánh giá kết quả điều trị trầm cảm bằng liệu pháp kích hoạt hành vi (BA). Nhóm chứng có 109 bệnh nhân, nhóm can thiệp có 98 bệnh nhân, tổng cộng có 207 đối tượng tham gia nghiên cứu.
Quy trình thu thập số liệu là tất cả các bệnh nhân sẽ được theo dõi tại 6 thời điểm: T0: ngay khi bệnh nhân được tuyển chọn vào nghiên cứu, T2: tuần thứ 2 sau can thiệp, T4: tuần thứ 4 sau can thiệp, T6: tuần thứ 6 sau can thiệp, T12: tuần thứ 12 sau can thiệp, T24: tuần thứ 24 sau can thiệp, T30: tuần thứ 30 (cuối giai đoạn can thiệp).
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ nữ giới tham gia nghiên cứu chiếm 74%; tỷ lệ nữ ở nhóm can thiệp là 66%. Ở nhóm tuổi 45-54 tuổi chiếm tỷ lệ 33% ở cả 2 nhóm, độ tuổi 35-65 chiếm 90%; nhóm < 35 tuổi chiếm khoảng 10%. Về trình độ học vấn, 33% là tiểu học, trình độ thấp hơn tiểu học và trình độ trung học cơ sở bằng nhau là 25%. Về tình trạng kết hôn, tỷ lệ 10% ở cả 2 nhóm can thiệp và nhóm chứng là chưa kết hôn; tình trạng ly thân, ly hôn nhóm chứng là 7% và nhóm can thiệp là 5%. Như vậy đa phần hơn 60% cả 2 nhóm là đã có gia đình. Về nghề nghiệp, nhóm nội trợ chiếm gần 35%, công nhân chiếm 20%. Tuy nhiên ở nghề nghiệp là nông dân ở nhóm can thiệp gần 30%, nhóm chứng gần 20%. Về tình trạng kinh tế ở cả 2 nhóm có gần 40% thuộc diện nghèo và cận nghèo.
Đối với phương pháp điều trị, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị liệu pháp kích hoạt hành vi (BA) là 30%; 70% là điều trị kết hợp cả BA và thuốc. Về mặt triệu chứng, theo Tổ chức Y tế thế giới, khí sắc trầm khoảng 90%, rối loạn giấc ngủ 80%, và thay đổi khẩu vị khoảng 70%. Khí sắc trầm buồn ở nghiên cứu này cũng tương đồng, từ 84,7% đến 87,2%. Triệu chứng rối loạn giấc ngủ cao hơn, từ 83,5% đến 93,9%. Triệu chứng chán ăn cũng tương đồng, 71,4% đến 73,4%. Tuy nhiên, các triệu chứng mệt mỏi là ưu thế nhất, từ 96,9% đến 98,2%. Điều đó cho thấy khi bị trầm cảm, có thể bệnh nhân chú trọng nhiều đến các triệu chứng cơ thể hơn là triệu chứng cảm xúc. Bên cạnh đó, tỷ lệ các triệu chứng nhận thức cũng chiếm tỷ lệ thấp. Điều này có thể cho phép đặt ra một giả thiết là phải chăng bệnh nhân trầm cảm trong nghiên cứu này ít chú ý đến sự ảnh hưởng của nhận thức bởi trầm cảm? Có một điều thú vị là triệu chứng được xem là các triệu chứng không điển hình của trầm cảm như ngủ nhiều và ăn nhiều cũng chiếm tỷ lệ khá ít (2,8%-8,2%, và từ 3,7%-12,2%). Điều đó chứng tỏ rằng mẫu triệu chứng trầm cảm không điển hình của trầm cảm trong nghiên cứu của ThS. Duy Thanh cũng phù hợp với các triệu chứng không điển hình của lý thuyết.
Kết luận của nghiên cứu cũng đã đưa ra là tỷ lệ tuân thủ điều trị ở nhóm điều trị thuốc đơn thuần cao hơn nhóm có sử dụng liệu pháp BA. Liệu pháp điều trị có BA có hiệu quả hơn trong việc điều trị trầm cảm trong 6 tuần đầu tiên, so với điều trị bằng thuốc chống trầm cảm đơn thuần. Phương pháp điều trị trầm cảm có sử dụng BA có hiệu quả trong việc điều trị trầm cảm và làm tăng mức hoạt hóa hành vi của bệnh nhân trầm cảm. Phương pháp điều trị trầm cảm có BA có hiệu quả hơn phương pháp điều trị bằng thuốc chống trầm cảm đơn thuần trong việc gia tăng mức hoạt hóa hành vi của bệnh nhân sau 6 tuần đầu tiên.
Nghiên cứu đã đưa ra kiến nghị là cỡ mẫu của nhóm BA đơn thuần nhỏ nên độ tin cậy của kết quả thấp, cần nhân rộng liệu pháp BA hơn nữa trong các nghiên cứu khác để thẩm định lại hiệu quả của liệu pháp BA trong điều trị trầm cảm. Cần có các nghiên cứu khác để tìm hiểu nguyên nhân của tỷ lệ bỏ cuộc của nhóm can thiệp có liệu pháp BA cao hơn nhóm điều trị dùng thuốc đơn thuần. Cần có nghiên cứu để tìm hiểu cảm nhận của bệnh nhân trầm cảm về việc đón nhận liệu pháp BA nói riêng, và liệu pháp tâm lý nói chung.
Thanh Tùng