
Hiện nay, việc giữ gìn răng cho trẻ em bằng các phương pháp như sử dụng Fluor, trám bít hố rãnh, điều trị tủy và bọc mão các răng cối lớn, làm các khí cụ để giữ và điều trị sớm các bệnh răng miệng, dự phòng các lệch lạc răng hàm về sau đang rất được quan tâm.
Một nghiên cứu của Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa do Nguyễn Đắc Thành và Trần Hạnh Bắc thực hiện từ tháng 1/2013 đến tháng 6/2014 là “Khảo sát tình trạng sức khỏe răng miệng của trẻ em từ 3-5 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Nha Trang”. Mục tiêu của đề tài là xác định tỷ lệ và mức độ sâu răng sữa của trẻ 3-5 tuổi và nhận xét về nhu cầu điều trị hiện nay đối với sức khỏe răng miệng của trẻ 3-5 tuổi. Các nghiên cứu viên đã thực hiện chọn đối tượng nghiên cứu tại 5 trường mẫu giáo ngẫu nhiên tại TP Nha Trang, có 330 trẻ tham gia nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sâu răng của trẻ trước tuổi đến trường rất cao 90,7%. Số răng sâu là 2.490 răng, số răng mất 64 răng, số răng trám 21 răng, trung bình sâu mất trám răng 7,36. Trẻ bị sâu ngà chiếm đa số 73,64%, kế đến là số trẻ bị 2-3 mức độ sâu trong hàm 23,66%. Về giới tính, tỷ lệ nam bị sâu răng là 70,01%, nữ là 94,28%; sâu mất trám răng ở nam là 6,93, ở nữ là 7,31. Tỷ lệ sâu răng theo tuổi: 3 tuổi là 80,83%, 4 tuổi là 94,02%, 5 tuổi là 97,35%. Nhưng sâu mất trám răng không tăng: 70,40; 7,28;7,09.
Trẻ sâu từ 6-10 răng chiếm đa số 39,2%, kế đến là nhóm trẻ sâu từ 1-5 răng 28,01%, trẻ không có răng nào sâu 9,43%, cuối cùng là nhóm trẻ sâu trên 10 răng 23,34%.
Tỷ lệ sâu răng theo các nhóm răng: răng trước trên 69,40%, răng cối trên 70,35%; răng trước dưới 25,24%, răng cối dưới 93,69%. Trong đó răng sâu nhiều nhất là R85 (9,40%), răng sâu ít nhất là R81, R82 (1,41%).
Đối với nhu cầu điều trị sâu răng sữa cho thấy tỷ lệ trẻ có răng cần trám 55,20%; răng cần chữa tủy 0,63%; răng cần nhổ: 2,20%; răng cần được trám và chữa tủy 14,82%; trám và nhổ 18,61%; chữa tủy và nhổ 0,94% và răng cần cả 3 nhu cầu điều trị trám, nhổ, chữa tủy là 7,60%.
Với tỷ lệ sâu răng ở mọi mức độ đến 90,57% và số trung bình sâu mất trám răng là 7,11 của nghiên cứu này là cao hơn so vối số liệu của toàn quốc vào năm 2000; sâu răng sữa trẻ 6 tuổi là 83,7% và sâu mất trám răng là 6,15.
Nghiên cứu cũng chỉ ra mức độ viêm tủy răng và tổn thương quanh chóp răng hầu như không xuất hiện một mình mà đi kèm với các tổn thương khác. Tổn thương vừa sâu răng, vừa viêm tủy chiếm 5,68%; tổn thương vừa sâu răng vừa viêm tủy chiếm 5,68%; tổn thương vừa sâu răng vừa viêm quanh chóp chiếm 7,26% trong tổng số. Cả ba mức độ sâu răng, viêm tủy, viêm quanh chóp chiếm 10,72%.
Nghiên cứu cũng phát hiện tỷ lệ đáng lưu ý như tỷ lệ trẻ sâu 6 răng trên cả 2 hàm răng là 12,6%, số trẻ sâu răng từ 1-10 răng chiếm tỷ lệ gần 50%; trẻ sâu răng từ 11-20 răng chiếm tỷ lệ hơn 40%.
Đối với tỷ lệ nhổ răng, kết quả nghiên cứu cho thấy tăng theo tuổi, ở độ tuổi 3 tuổi có tỷ lệ nhổ răng là hơn 4%; 4 tuổi hơn 11% và 5 tuổi gần 24%. Chúng ta biết rằng tuổi thay răng sớm nhất là 6 tuổi và đó là răng cửa giữa dưới, nhưng trên nghiên cứu này với 317 trẻ bị sâu răng thì tỷ lệ sâu răng đó rất ít chiếm 2,89%, còn tỷ lệ sâu răng cối sữa dưới chiếm đến 93,69% và cối sữa trên chiếm 70,35%, cho nên khả năng nhổ răng đó nhiều hơn là thay răng cửa.
Trong số mất răng thì tỷ lệ nam nhiều hơn nữ (14,69% và 10,98%), có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Nhu cầu điều trị hiện nay rất lớn: 77% cần trám đơn giản; 9% cần chữa tủy; 14% cần nhổ; trong số đó trẻ có chỉ cần trám (55,20%); cần chữa tủy (0,63%); cần nhổ (2,20%); có trẻ có hai loại hình điều trị trám và chữa tủy (14,82%), trám và nhổ (18,61%); chữa tủy và nhổ (0,94%); hoặc cà ba loại hình (7,60%).
Các nghiên cứu viên đã đưa ra khuyến nghị là chương trình nha học đường của TP Nha Trang cần được phát triển thành một hệ thống và có sự quan tâm hơn nữa đến các trường mẫu giáo trong địa bàn, đặc biệt lưu ý đến việc hướng dẫn và tập kỹ năng chải răng cho trẻ tại trường học.
Để đáp ứng nhu cầu điều trị và giảm tỷ lệ nhổ răng sớm trước tuổi thay răng, Trung tâm Y tế TP Nha Trang nên thiết lập phòng nha khoa cố định để điều trị cho trẻ em.
Ngành Giáo dục và Đào tạo TP Nha Trang cần liên kết chặt chẽ với các đơn vị y tế trên địa bàn có chương trình nha học đường để có được sự đầu tư về chiều sâu tại các trường học để công việc khám và điều trị bệnh lý răng miệng tại các cơ sở trường học đạt được chất lượng và hiệu quả cao.
Quốc Nguyên