
Sỏi hệ tiết niệu là bệnh thường gặp ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Nếu không được phát hiện chăm sóc và điều trị kịp thời có thể dẫn đến nhiều biến chứng nặng nề làm ảnh hưởng tới năng suất lao động, kinh tế gia đình bệnh nhân – xã hội và có thể dẫn tới tử vong. Việc điều trị loại bỏ nguyên nhân tức thời do sỏi là không khó nhưng để đảm bảo rằng hạn chế tỷ lệ tái phát sỏi ở những bệnh nhân đã mắc sỏi trước đó và tỷ lệ mắc sỏi trong cộng đồng không còn tiếp tục tăng thì rất khó. Chính vì vậy việc làm cho người dân có ý thức về bệnh và việc dự phòng mắc sỏi cũng như ngăn chặn những biến chứng của bệnh là rất cần thiết. Do áp lực công việc ngày càng lớn nên điều dưỡng chỉ chú trọng tới việc làm chuyên môn kỹ thuật mà quên mất rằng việc giáo dục cho người bệnh về kiến thức về bệnh và phòng bệnh là rất quan trọng đối với những bệnh nhân chuẩn bị ra viện nhằm hạn chế tái phát cũng như phát hiện sớm và điều trị sỏi hệ tiết niệu kịp thời.
Tại Hội nghị khoa học trẻ tháng 6/2015 vừa qua, Cử nhân điều dưỡng Trần Thị Thanh - Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa đã có báo cáo đề tài “Khảo sát kiến thức - thái độ - thực hành về phòng chống sỏi hệ tiết niệu và mức độ hài lòng của bệnh nhân sỏi tiết niệu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa”.
Đề tài được thực hiện từ tháng 10/2013 đến tháng 6/2014, có 92 bệnh nhân sỏi tiết niệu điều trị nội trú tại khoa Nội tổng hợp thần kinh tham gia. Kết quả nghiên cứu cho thấy độ tuổi mắc bệnh cao nhất của nhóm nghiên cứu là 30-49 tuổi (56,6%); nam giới chiếm gần 70%; gần 83% người bệnh là lao động chân tay, nông nghiệp, công nhân, vận tải.
Đối với mức độ kiến thức hiểu biết về sỏi hệ tiết niệu, nhóm nghiên cứu đưa ra 3 mức độ là hiểu đầy đủ, không đầy đủ và không biết. Các chỉ số bao gồm nguyên nhân gây sỏi hệ tiết niệu, loại thức ăn dễ tạo sỏi, triệu chứng nghi ngờ sỏi hệ tiết niệu, biến chứng của sỏi hệ tiết niệu, các biện pháp phòng sỏi. Cụ thể các chỉ số bao gồm do dị tật đường tiểu, do cô đặc nước tiểu (uống ít nước, nắng nóng,…), do chế độ ăn, do nhiễm trùng tiết niệu sinh dục, do ít vận động; ăn thức ăn nhiều chất canxi (tôm, trứng, sữa,…), nhiều chất Purin (lòng heo, dưa cà muối, cá khô,…), nhiều chất oxalat (trà, cà phê, đậu,…). Các triệu chứng nghi ngờ sỏi hệ tiết niệu như tiểu ra sỏi, tiểu ra máu, đau vùng hông, thắt lưng, tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu ít, không tiểu được. Các biến chứng của sỏi hệ tiết niệu như nhiễm trùng đường tiểu, vô niệu gây suy thận cấp, viêm thận bể thận mạn, thủng niệu quản do sỏi niệu quản gây nên, suy thận mạn. Các biện pháp phòng sỏi như uống nhiều nước 1,5 – 2 lít/ngày, điều trị các nhiễm trùng đường tiểu, thay đổi thói quen ăn uống, không nhịn tiểu, tích cực vận động.
Đối với thái độ dự phòng sỏi hệ tiết niệu, các chỉ số đưa ra là sỏi hệ tiết niệu rất nguy hiểm nếu không được phát hiện và điều trị sớm; cần phải khám sức khỏe định kỳ để phát hiện sỏi; thường xuyên cập nhật từ các nguồn thông tin về các biện pháp phát hiện và phòng sỏi hệ tiết niệu; tích cực tuyên truyền cho người thân các biện pháp phòng sỏi hệ tiết niệu là điều quan trọng; thực hiện các biện pháp phòng sỏi hệ tiết niệu phải được thực hiện thường xuyên.
Đối với mức độ thực hành phòng bệnh sỏi tiết niệu, các chỉ số bao gồm đã từng thực hành biện pháp phòng sỏi; uống nhiều nước 1,5 – 2 lít/ngày một cách thường xuyên (hàng ngày); điều trị ngay khi phát hiện sỏi; thay đổi thói quen ăn uống (tránh ăn các thức ăn nhiều canxi, phủ tạng động vật,…); thường xuyên nhịn tiểu.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy về kiến thức có 16,3% bệnh nhân có kiến thức đầy đủ về sỏi hệ tiết niệu; 69,6% bệnh nhân có kiến thức không đầy đủ về sỏi hệ tiết niệu; 5,4% bệnh nhân không biết về nguyên nhân, triệu chứng, biến chứng và cách phòng sỏi hệ tiết niệu. Về thái độ, có 25% bệnh nhân rất quan tâm tới vấn đề phòng bệnh sỏi hệ tiết niệu; 69,6% bệnh nhân quan tâm tới vấn đề phòng bệnh sỏi hệ tiết niệu; 5,4% bệnh nhân không quan tâm tới vấn đề phòng bệnh sỏi hệ tiết niệu. Về thực hành, có 48,9% bệnh nhân có thực hành “đúng” phòng sỏi tiết niệu; 33,7% bệnh nhân có thực hành “không đầy đủ” phòng sỏi tiết niệu; 17,4% bệnh nhân có thực hành “không thực hành” phòng sỏi tiết niệu. Về mức độ hài lòng của bệnh nhân trong công tác giáo dục sức khỏe, có 19,5% bệnh nhân “rất hài lòng” với sự giáo dục của điều dưỡng; 35,7% bệnh nhân “bình thường” với sự giáo dục của điều dưỡng; 44,6% bệnh nhân “không hài lòng” với sự giáo dục của điều dưỡng.
Theo Cử nhân Trần Thị Thanh, kết quả khảo sát nhận thấy hiểu biết của bệnh nhân về sỏi là tạm được song bệnh nhân lại có thái độ và thực hành chưa đúng trong việc dự phòng điều trị sỏi. Thiết nghĩ nếu bệnh nhân có nhiều điều kiện thuận lợi hơn về kinh tế, thời gian và thông tin chi tiết rõ ràng, được sự hướng dẫn chi tiết cụ thể về chế độ ăn uống, tốt nhất là chuyên gia dinh dưỡng thì chắc chắn tỷ lệ bệnh nhân có thực hành phòng tránh sỏi đúng sẽ cao hơn./.
Phương Thảo