
Ngày 26-27/3/2015, Quỹ Phòng chống tác hại thuốc lá tổ chức Hội thảo triển khai kế hoạch phòng chống tác hại thuốc lá năm 2015 và chia sẻ kinh nghiệm thực hiện Luật Phòng chống tác hại thuốc lá tại TP Nha Trang.
Có nhiều tham luận được báo cáo tại hội thảo của TP Nha Trang, TP Thái Nguyên, TP Hải Phòng. Các cán bộ của Quỹ Phòng, chống tác hại của Thuốc lá hướng dẫn quy trình xây dựng và phê duyệt kế hoạch triển khai hoạt động phòng chống tác hại thuốc lá tại các địa phương, giới thiệu một số hoạt động truyền thông và tài liệu truyền thông về phòng chống tác hại thuốc lá.
Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ hút thuốc lá ở nam giới cao nhất trên thế giới, với 56,1% nam giới và 1,8% nữ giới hút thuốc. Tỷ lệ hút thuốc lá thụ động tại nơi làm việc là 49% và 71% ở nhà. Theo Tổ chức Y tế Thế giới nếu không có các biện pháp can thiệp kịp thời, đến năm 2020 sẽ có 10% dân số Việt Nam chết vì liên quan đến khói thuốc lá.
Kết quả nghiên cứu của TS.Đặng Văn Chính- Viện Y tế Công cộng TP Hồ Chí Minh- về “Đánh giá kết quả thực hiện dự án môi trường giao thông công cộng không khói thuốc lá tại TP Hồ Chí Minh” cho thấy có những vấn đề đáng quan tâm. Nghiên cứu đã phỏng vấn 792 hành khách bằng bộ câu hỏi soạn sẵn. Quan sát tại các địa điểm đã chọn để đánh giá sự tuân thủ của họ với các yêu cầu của chương trình, quan sát các biển hiệu không hút thuốc, và ghi nhận bằng chứng của việc hút thuốc trong các khu vực cấm hút thuốc. Tại mỗi đơn vị: sân bay Tân Sơn Nhất, ga Sài Gòn, bến xe Miền Đông và bến xe Miền Tây, tiến hành phỏng vấn 298 hành khách chia đều cho các khu vực như phòng chờ, căn tin, phòng bán vé, phòng khởi hành. Thu thập số liệu 3 ngày/tuần (thứ hai, thứ tư và thứ bảy hoặc chủ nhật) và thu thập 3 buổi/ ngày (sáng, trưa và tối).
Mục tiêu nghiên cứu nhằm khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành đối với quy định cấm hút thuốc của người dân sử dụng phương tiện giao thông công cộng tại sân bay Tân Sơn Nhất, ga Sài Gòn, bến xe Miền Đông và bến xe Miền Tây.
Nghiên cứu đã tiến hành hai giai đoạn đầu kỳ và cuối kỳ với tổng cộng 1.582 hành khách và nhân viên giao thông công cộng tại 4 điểm giao thông công cộng tại TP Hồ Chí Minh, không có sự khác biệt thống kê về tuổi, giới ở những người tham gia phỏng vấn đầu kỳ và cuối kỳ. So với khảo sát đầu kỳ, tỷ lệ tham gia phỏng vấn trả lời hút thuốc có hại cho sức khỏe, hút thuốc gây ra nhiều bệnh và hút thuốc thụ động cũng có tác hại như người hút thuốc cao hơn, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ hiểu biết về tác hại của hút thuốc vượt mục tiêu ban đầu của dự án.
Các thông điệp về từ bỏ thuốc lá như tờ rơi, video và đài phát thanh đã được công bố và phân phối cho hành khách nhưng có lẽ không làm tăng kiến thức và thái độ của hành khách về tác hại thuốc lá, bởi vì kiến thức của họ về tác hại của thuốc lá gây ra các vấn đề về sức khỏe đã rất cao. Sự hiểu biết sâu sắc về tác hại nghiêm trọng của thuốc lá có thể làm thay đổi hành vi của người hút thuốc lá trong mối quan hệ giữa bản thân và gia đình của họ.
Không có sự khác biệt đáng kể về hiểu biết của người tham gia phỏng vấn về tác hại của thuốc lá, các bệnh do thuốc lá gây ra và nguyên nhân gây ra ung thư trước và sau can thiệp. Hầu hết, người tham gia phỏng vấn (97,5%) biết rằng hút thuốc gây ra các vấn đề sức khỏe và đồng ý rằng tất cả mọi người cần được bảo vệ khỏi hút thuốc lá thụ động.
Tỷ lệ nhận thức về lệnh cấm hút thuốc nơi công cộng chiếm tỷ lệ cao và tương tự nhau giữa hai cuộc khảo sát (90%). Tuy nhiên, số người hút thuốc nơi công cộng được yêu cầu dập thuốc ngay, hoặc yêu cầu đến nơi khác để hút chiếm tỷ lệ rất cao trong đánh giá này, cao hơn so với đánh giá đầu kỳ.
Có khoảng một nửa người được hỏi đồng ý phạt tiền đối với hành vi hút thuốc nơi công cộng trong cả 2 cuộc khảo sát. Tuy nhiên, tỷ lệ cho rằng người vi phạm sẽ chấp nhận nộp phạt chiếm tỷ lệ cao hơn trong khảo sát cuối kỳ.
So sánh với kết quả trước can thiệp, đánh giá này cho thấy có tỷ lệ hút thuốc thấp hơn ở hành khách, tài xế và phụ xe trong các phương tiện giao thông công cộng. Ngoài ra, có nhiều tài xế và phụ xe yêu cầu hành khách dừng hút thuốc trên phương tiện giao thông công cộng của mình.
So với kết quả điều tra đầu kỳ, tỷ lệ hút thuốc tại các điểm giao thông công cộng giảm (69,4% so với 63,8%). Tỷ lệ người hút thuốc đã được nhắc nhở bởi đội thực thi tăng gấp ba lần (8,4% so với 26,7%).
Tỷ lệ các biển báo “không hút thuốc” tại các địa điểm giao thông công cộng được quan sát thấy tăng 66% trong khảo sát đầu kỳ và 80,2% trong khảo sát cuối kỳ. Tỷ lệ trả lời quan sát thấy các điểm bán thuốc lá tại các địa điểm giao thông công cộng thấp hơn trong khảo sát đầu kỳ. Tuy nhiên, hơn hai phần ba cho biết rằng thuốc lá được bán tại các địa điểm này.
Hầu như nhóm hút thuốc và nhóm không hút thuốc đều có kiến thức về tác hại thuốc lá. Tuy nhiên, những nhóm không hút thuốc có tỷ lệ hiểu biết cao hơn so với nhóm hút thuốc. Không có sự khác biệt trong nhận thức về lệnh cấm hút thuốc công cộng giữa nhóm hút thuốc và không hút thuốc. Nhóm không hút thuốc có thái độ ủng hộ lệnh cấm hút thuốc nơi công cộng cao hơn nhóm hút thuốc. 80% các địa điểm của dự án đã đáp ứng yêu cầu về quy định cấm hút thuốc lá.
Nghiên cứu có một số khuyến nghị, đó là đội thực thi cần phải được khuyến khích để thiết lập càng nhiều càng tốt những can thiệp nhằm thường xuyên nhắc nhở hành khách tuân thủ quy định cấm hút thuốc; những địa điểm giao thông công cộng có mái che của dự án như hành lang, nơi có số lượng cao của những người tiếp xúc với thuốc lá thụ động cần được chú trọng nhiều hơn bởi các đội thi hành trong việc thực thi các lệnh cấm hút thuốc.
Phương Thảo