Theo phân loại của chương trình Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, khuyết tật vận động là một trong 7 nhóm tàn tật thường gặp.

Khuyết tật vận động có tỷ lệ rất lớn, thường đứng cao nhất trong các dạng tàn tật. Tỷ lệ khuyết tật vận động dao động từ 1-3%0 dân số và chiếm từ 25-70% tổng số người tàn tật. Trẻ khuyết tật vận động không những gặp rất nhiều khó khăn trong di chuyển, học tập, hướng nghiệp, trong sinh hoạt hàng ngày, mà còn gặp những trở ngại rất khó khắc phục trong vấn đề việc làm và thu nhập khi trưởng thành. Trẻ khuyết tật vận động là một gánh nặng kinh tế và tinh thần cho gia đình và xã hội. Người khuyết tật vận động không sản xuất ra của cải vật chất đóng góp cho xã hội mà ngược lại xã hội mất một phần chi phí để chăm lo cho họ.
Các yếu tố nguy cơ trong khi sinh gây khuyết tật vận động ở trẻ em đã được nghiên cứu trên thế giới và một số ít ở Việt Nam. Các nghiên cứu cho thấy các yếu tố nguy cơ của quá trình chuyển dạ của bà mẹ gây nên những khuyết tật vận động có thể tạm thời cũng như vĩnh viễn. Các yếu tố nguy cơ của khuyết tật vận động trong khi sinh bao gồm: đẻ khó, chuyển dạ kéo dài, cách thức sinh như mổ đẻ hoặc sử dụng forcept hay giác hút. Mặt khác tình trạng của trẻ khi sinh cũng là những yếu tố nguy cơ của khuyết tật vận động như trẻ có cân nặng cao và ngạt. Hiện nay trên thế giới những nghiên cứu về khuyết tật vận động và nguy cơ gây khuyết tật vận động rất được chú trọng, bởi vì căn cứ vào các nghiên cứu này các nhà y tế công cộng có thể đề ra các biện pháp dự phòng khuyết tật vận động một cách rất hữu hiệu. Nghiên cứu các nguy cơ quá trình sinh đến tình trạng khuyết tật ở trẻ, qua đó tìm ra bằng chứng về vai trò của các yếu tố nguy cơ từ đó cải thiện kỹ thuật, cải thiện dịch vụ sản khoa nhằm giảm thiểu tình trạng khuyết tật ở trẻ.
Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Trương Thị Mai Hồng cùng cộng sự Bệnh viện Nhi Trung ương thực hiện nghiên cứu bệnh chứng báo cáo đề tài “Một số yếu tố nguy cơ trong khi sinh gây khuyết tật vận động ở trẻ tại huyện Hoài Đức, Hà Nội”.
Đối tượng nghiên cứu bao gồm 116 trẻ có khuyết tật vận động và 232 trẻ không mắc khuyết tật vận động và các bà mẹ của những trẻ em này. Thời gian nghiên cứu năm 2012 tại huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Thiết kế nghiên cứu là bệnh-chứng trong đó nhóm bệnh là các trường hợp trẻ có khuyết tật vận động và nhóm chứng là những trẻ không có khuyết tật vận động. Mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ và khuyết tật vận động được trình bày bằng tỷ suất chênh (OR) và 95% CI.
Bác sĩ Trương Thị Mai Hồng phân tích báo cáo, nghiên cứu cho thấy có sự kết hợp giữa yếu tố đẻ khó và khuyết tật vận động của trẻ. Điều này có thể được giải thích là do quá trình đẻ khó có thể gây nên một số tổn thương, đặc biệt là tổn thương ở khu vực vận động của não bộ và từ đó có thể là những nguyên nhân gây khuyết tật vận động ở trẻ. Những trường hợp đẻ khó có thể là do thai to hoặc có dị dạng đường sinh dục ở bà mẹ. Kết quả nghiên cứu này cảnh báo cho những trường hợp tiên lượng thai phụ đẻ khó thì cần thiết phải có những can thiệp kịp thời để tránh các di chứng cho cả mẹ lẫn con. Tương tự, những trẻ sinh ra từ các bà mẹ có chuyển dạ kéo dài thì nguy cơ mắc khuyết tật vận động cao gấp 3,3 lần những trẻ mà bà mẹ không có tình trạng này. Nghiên cứu cũng tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa khuyết tật vận động ở trẻ và bà mẹ phải mổ đẻ. Nghiên cứu của Trần Thị Thu Hà năm 2002 cho thấy nguy cơ mắc bại não ở trẻ bị mổ đẻ cao gấp 4,0 lần những trẻ đẻ thường. Theo Tổ chức Y tế Thế giới và một số tác giả, tỷ lệ có nguy cơ mắc tai biến sản khoa là 15% tất cả các quốc gia nhưng tỷ lệ mắc tai biến sản khoa hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng dịch vụ sản khoa từng quốc gia. Do vậy, Bộ Y tế cũng khuyến cáo khám thai thường kỳ là rất quan trọng và cần thiết để có thể phát hiện các nguy cơ của tai biến sản khoa và có kế hoạch quản lý thai tốt.

Trẻ sinh ra cân nặng dưới 2.500gr có nguy cơ mắc khuyết tật vận động cao gấp 18,1 lần so với trẻ ở nhóm trên 2.500gr. Khi phân tích trên mô hình hồi quy đa biến, mối liên quan này vẫn có ý nghĩa thống kê. Điều đó chứng tỏ mối liên quan này khá mạnh. Có thể giải thích là do sự phát triển của thai nhi trong buồng tử cung bị hạn chế, từ đó dẫn đến tình trạng kém phát triển cả về tinh thần và vận động. Theo Niên giám thống kê Y tế năm 2014 tỷ lệ trẻ sinh nhẹ cân là khá phổ biến, chiếm 7,8%. Tuy nhiên, tại Việt Nam vẫn chưa có nghiên cứu về mối liên quan giữa tình trạng đẻ nhẹ cân và khuyết tật vận động. Việc cải thiện chất lượng cuộc sống và dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai cùng với nổ lực của ngành y tế địa phương và toàn thể cộng đồng sẽ làm giảm tỷ lệ sinh thấp cân, từ đó có thể hạ thấp tỷ lệ khuyết tật vận động.
Trong nghiên cứu, trẻ sinh ngạt có liên quan chặt chẽ đến khuyết tật vận động. Đây được coi là tình trạng phổ biến nhất trong số các nguyên nhân gây bại não, một dạng khuyết tật vận động chủ yếu ở trẻ em. Số liệu từ khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Nhi Trung ương cho thấy 60% nguyên nhân gây bại não ở trẻ em là do có tiền sử ngạt khi sinh. Một nghiên cứu khác trên thế giới cũng cho thấy 33,6% trẻ mắc rối loạn vận động khi 12 tháng tuổi có tiền sử ngạt khi sinh và 34% trẻ chậm phát triển vận động, trí tuệ có tiền sử ngạt khi sinh.
Tác giả nghiên cứu có kết luận, một số yếu tố nguy cơ của trẻ khi sinh làm gia tăng nguy cơ có ý nghĩa thống kê của khuyết tật vận động như đẻ khó (3,3 lần), chuyển dạ kéo dài (3,4 lần), sinh mổ đẻ (3,0 lần), trẻ đẻ nhẹ cân (18,1 lần) và ngạt khi sinh (7,9 lần). Một số yếu tố nguy cơ khác làm gia tăng nguy cơ nhưng chưa mang ý nghĩa thống kê như can thiệp bằng Forcept (2,0 lần), hút lấy thai (1,5 lần). Cả bà mẹ và ngành y tế cần có những biện pháp tăng cường quản lý thai và cung cấp dịch vụ trong khi sinh để làm giảm nguy cơ của khuyết tật vận động.
Hồng Sơn