
Tại hội nghị thường niên Tiết niệu- Thận học Việt Nam lần thứ IX tổ chức tại TP Nha Trang tháng 8/2015, PGS.TS Vương Tuyết Mai- Bộ môn Nội tổng hợp Đại học Y Hà Nội cùng cộng sự có báo cáo đề tài “Liên quan của kiến thức phòng tránh nhiễm khuẩn với tỷ lệ viêm màng bụng ở bệnh nhân lọc màng bụng liên tục”.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3/2014 đến tháng 9/2014 trên 188 bệnh nhân có tuổi trên 18, thời gian lọc màng bụng liên tục trên 6 tháng. Bộ câu hỏi nghiên cứu dựa theo tác giả Sayed S.A.M được đăng trên tạp chí Peritoneal Dialysis International năm 2013. Có 15 câu hỏi chia 03 nhóm, gồm nhóm kiến thức về viêm màng bụng liên quan đến triệu chứng, xử trí và phòng ngừa viêm màng bụng; nhóm câu hỏi kiến thức về nhiễm khuẩn chân ống và nhóm câu hỏi kiến thức về xử trí các sự cố có thể gặp tại nhà. Tổng số điểm tối đa là 35 điểm, chia 3 bậc: thấp - dưới 18 điểm, bậc trung bình từ 19 đến 21 điểm và bậc cao trên 21 điểm.
Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm điểm thấp chiếm tỷ lệ cao nhất 62,7%; nhóm bệnh nhân đạt điểm cao chiếm tỷ lệ thấp nhất (6,4%). Tổng số tháng điều trị lọc màng bụng liên tục của 118 bệnh nhân nghiên cứu là 9.414 tháng, trong đó 84 lần bệnh nhân bị viêm màng bụng; như vậy trong 112 tháng điều trị xuất hiện 1 lần viêm màng bụng. Thời gian trung bình lần đầu viêm màng bụng là 9,7 tháng; thấp nhất là 1 tháng; cao nhất là 111 tháng. Thời gian bệnh nhân bị viêm màng bụng lần đầu chủ yếu tại thời điểm dưới 18 tháng chiếm 44,6%; trên 36 tháng chiếm 33,8%. Tỷ lệ viêm màng bụng thấp nhất (0,06 lần/ bệnh nhân/năm) ở nhóm bệnh nhân có điểm kiến thức cao.
Theo tác giả nghiên cứu, sau một thời gian điều trị lọc màng bụng, bệnh nhân dễ dàng quên kiến thức phòng tránh nhiễm khuẩn đã được hướng dẫn. Do vậy, cán bộ y tế cần có kế hoạch kiểm tra, đánh giá lại kiến thức bệnh nhân một cách định kỳ để điều chỉnh việc huấn luyện một cách liên tục, hiệu quả cho người bệnh.
Lọc màng bụng là một phương pháp cần sự tỉ mỉ, chú ý từng chi tiết nhỏ trong lý thuyết và thực hành, đảm bảo vệ sinh sạch sẽ, phòng tránh nhiễm khuẩn tốt; so sánh giữa hai giới nam và nữ, nam giới thường hay chủ quan hơn và cũng làm tắt các bước trong quy trình nhiều hơn. Vì vậy kết quả nghiên cứu nhóm những bệnh nhân nam, bệnh nhân trên 60 tuổi có điểm kiến thức thấp hơn các nhóm khác.
Kết quả nghiên cứu của PGS.TS Vương Tuyết Mai cho thấy có mối liên quan giữa kiến thức của bệnh nhân với tỷ lệ viêm màng bụng; tác giả đã đưa ra khuyến cáo là cần chú ý đến việc tái huấn luyện phòng tránh nhiễm khuẩn cho bệnh nhân, nên thực hiện ở thời điểm dưới 18 tháng và trên 36 tháng.
Chúng ta biết rằng, hiện nay với sự gia tăng tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường và tăng huyết áp; bệnh thận mạn cũng đang gia tăng và trở thành vấn đề y tế toàn cầu. Theo các nghiên cứu trên thế giới, tỷ lệ bệnh thận mạn ước tính khoảng 8-16% dân số thế giới. Khi bệnh nhân bị bệnh thận mạn, mức lọc cầu thận suy giảm không hồi phục theo thời gian. Khi mức lọc cầu thận dưới 15ml/phút/1.73 m2 da, cần áp dụng các phương pháp điều trị thay thế thận như ghép thận, thận nhân tạo và lọc màng bụng. Theo ước tính hiện có khoảng 10-15% số bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối được điều trị bằng phương pháp lọc màng bụng. Đây là phương pháp điều trị do chính bệnh nhân hoặc người nhà chủ động tiến hành tại nhà. Vì làm tại nhà nên có một số nhược điểm vì khi bệnh nhân không có kiến thức phòng tránh nhiễm khuẩn tốt, không thực hiện đúng các thao tác vô trùng trong quy trình thì rất dễ bị biến chứng nhiễm khuẩn mà đặc biệt là viêm màng bụng. Viêm màng bụng là một nguyên nhân hàng đầu gây thất bại điều trị của phương pháp lọc màng bụng ở hầu hết các quốc gia.
Hữu Lai