
Theo ghi nhận của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), thừa cân béo phì đang trở thành nguy cơ gây tử vong hàng đầu cho nhân loại. Có khoảng 3,4 triệu người chết/năm do các bệnh liên quan đến béo phì. Tỷ lệ béo phì ở các nước trên thế giới đang gia tăng đáng kể đi kèm với những thay đổi trong lối sống và chế độ ăn nhiều chất béo.
Nguyễn Lĩnh Toàn cùng cộng sự Học viện Quân y- Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu “Nồng độ adiponectin huyết thanh, chỉ số nhân trắc và mối liên quan ở người béo phì”. Nghiên cứu được thực hiện trên 75 người được chia thành ba nhóm: nhóm chứng 30 người, là những người khỏe mạnh có chỉ số khối cơ thể BMI 18,5-22,9. Các xét nghiệm sinh hóa về chức năng gan, thận, chỉ số lipit, huyết áp đều trong giới hạn bình thường. Nhóm hai (n=30) là nhóm người béo phì không có bệnh khác kèm theo, với chỉ số BMI > 25. Nhóm ba (n=15) là nhóm người béo phì có đái tháo đường týp 2, với chỉ số BMI > 25, chẩn đoán đái tháo đường týp 2 theo tiêu chuẩn WHO 1998. Các đối tượng nghiên cứu được sử dụng kỹ thuật Elisa định lượng nồng độ adiponectin.
Béo phì có thể định nghĩa là sự lưu trữ năng lượng dư thừa trong mô mỡ trắng. Gần đây, mô mỡ trắng đã được công nhận như là một cơ quan nội tiết quan trọng, vì nó phân bố rộng khắp cơ thể và có thể ảnh hưởng đến chức năng của nhiều hệ thống. Mô mỡ trắng sản xuất và bài tiết hơn 600 yếu tố có hoạt tính sinh học, được gọi chung là adipokines. Adiponectin là một trong những adipokine nổi trội được tiết ra bởi mô mỡ. Adiponectin có vai trò như là một yếu tố chống viêm, các nghiên cứu gần đây cho thấy Adiponectin có vai trò là giảm béo phì, làm tăng kiểm soát năng lượng và tăng hoạt tính của insulin.
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Lĩnh Toàn cho thấy nồng độ adiponectin cao nhất ở nhóm khỏe mạnh, tiếp theo là nhóm béo phì và thấp nhất là nhóm đái tháo đường tuýp 2 có béo phì (p< 0,001). Nghiên cứu có kết luận là nồng độ adiponectin huyết thanh có mối liên quan nghịch với chỉ số BMI, tỷ lệ vòng bụng vòng mông (WHR) và nồng độ insulin huyết thanh lúc đói.
Chúng ta biết rằng, béo phì là một bệnh lý mạn tính do tình trạng mất cân bằng giữa khẩu phần năng lượng nhập vào cơ thể và tiêu hao năng lượng, sự mất cân bằng này có sự tham gia của cả yếu tố di truyền và môi trường. Béo phì liên quan đến sự tăng số lượng và kích thước của các tế bào mỡ. Một người trưởng thành thể trạng gầy có khoảng 40 tỷ tế bào mỡ, mỗi tế bào chứa khoảng 0,5mcg triglyceride. Một người trưởng thành béo phì có số lượng tế bào mỡ nhiều hơn, có trường hợp lên đến 120 tỷ tế bào, mỗi tế bào chứa 1,2 mcg triglycerid. Số lượng tế bào mỡ tăng nhanh vào những năm đầu tiên của trẻ nhỏ và những năm cuối của thời kỳ dậy thì.
Chương trình làm thay đổi lối sống giúp người béo phì điều chỉnh chế độ ăn và thói quen hoạt động thể lực để làm giảm cân hoặc dự phòng tình trạng tiếp tục tăng cân thêm nữa. Thay đổi thói quen ăn uống là quan trọng nhất để đạt được tình trạng giảm cân bước đầu, tăng cường tập luyện thể lực có vai trò quan trọng để duy trì giảm cân trong thời gian dài.
Các bước thực hiện gồm đánh giá mong muốn và nguyện vọng của người béo phì; đánh giá nhanh thói quen ăn uống, thói quen hoạt động thể chất hiện tại. Tiếp theo đặt ra các mục tiêu khiêm tốn, từ từ, thực tế đối với các thói quen không có lợi của người béo phì, nhất là thói quen ăn uống. Theo ước tính, nếu làm thiếu hụt khoảng 3500 calo sẽ làm giảm được cân nặng khoảng 0,45kg; vì vậy làm giảm 500 calo mỗi ngày sẽ giúp làm giảm cân mỗi tuần được khoảng 0,45 kg. Người thầy thuốc, người thân cần động viên khuyến khích người béo phì dù có những thay đổi rất khiêm tốn, đồng thời đặt ra mục tiêu tiếp tục cho điều trị thay đổi hành vi để thúc đẩy quá trình làm giảm cân hoặc duy trì tình trạng giảm cân mà bệnh nhân đã đạt được.
Đánh giá về thói quen ăn uống cần lưu ý bệnh nhân ăn những gì hàng ngày; sự khác nhau về bữa ăn hàng ngày trong tuần (ngày làm việc) và các ngày nghỉ, ngày cuối tuần. Cần có sổ tay ghi chép nhật ký bữa ăn để đánh giá thói quen ăn uống; từ đó tính ra lượng calo có trong thức ăn, đồ uống đó. Hoạt động thể lực cũng ghi lại hàng ngày trong cuốn nhật ký bữa ăn, các chương trình tập luyện cần phù hợp với từng người, tránh làm nặng thêm một số bệnh lý (ví dụ tổn thương khớp). Các hoạt động thể lực trung bình gồm chạy 15 phút, bơi sải trong 20 phút, nhảy nhanh trong 30 phút, đi xe đạp 8km trong 30 phút, chơi bóng rổ trong 15-20 phút, chơi bóng chuyền trong 45 phút.
Nguyễn Phương