[Đăng ngày: 04/12/2018]
Theo Tổ chức Y tế thế giới, bệnh đái tháo đường đang có tốc độ tăng nhanh trên toàn cầu. Đến năm 2020 sẽ có 438 triệu người mắc bệnh đái tháo đường, trong đó 50% là người Châu Á. Theo đó, tỷ lệ đái tháo đường ở phụ nữ mang thai cũng tăng lên. Tại Việt Nam, theo báo cáo của Bộ Y tế, tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ tăng từ 3,9% năm 2004 đến 20,3% năm 2012 và 20,9% năm 2017.

Đái tháo đường (ĐTĐ) là nhóm những rối loạn chuyển hóa không đồng nhất gồm tăng glucose máu và rối loạn dung nạp glucose do thiếu Insulin, giảm tác dụng của Insulin hoặc cả hai. ĐTĐ trong thai kỳ là sự tăng glucose máu được phát hiện lần đầu trong khi mang thai.

Theo BS Lê Văn Đức – Giám đốc Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh, những thai phụ có yếu tố nguy cơ dễ mắc ĐTĐ thai kỳ là người béo phì; trước đó đã từng sinh con nặng trên 4 kg, mẹ mang thai ở tuổi trên 35, mẹ có tiền sử bất thường về dung nạp glucose. Trong trường hợp có yếu tố nguy cơ cao, đa số phụ nữ có tiền sử rối loạn dung nạp glucose khi có thai đều bị ĐTĐ thai kỳ. Ngoài ra có các yếu tố nguy cơ khác như mẹ có thai chết lưu không rõ nguyên nhân, con bị dị tật bẩm sinh, tiền sản giật, sinh non; mẹ có hội chứng buồng trứng đa nang.

Thai phụ khi mắc ĐTĐ thai kỳ sẽ có nguy cơ xảy ra các tai biến trong suốt quá trình mang thai cao hơn các thai phụ bình thường. Tai biến thường gặp là tăng huyết áp, gây biến chứng cho mẹ và thai nhi như tiền sản giật, sản giật; tai biến mạch máu não, suy gan, suy thận, thai chậm phát triển trong tử cung, sinh non và tăng tỷ lệ chết chu sinh. Các tai biến khác là đa ối; sẩy thai, nhiễm khuẩn đường tiểu; về lâu dài phụ nữ có tiền sử ĐTĐ thai kỳ có nguy cơ cao diễn tiến thành ĐTĐ týp 2. Có khoảng 17% đến 63% các thai phụ ĐTĐ thai kỳ sẽ bị ĐTĐ týp 2 trong thời gian 5 năm đến 16 năm sau sinh.

BS Đức cho biết, ĐTĐ thai kỳ ảnh hưởng lên sự phát triển của thai nhi chủ yếu vào giai đoạn 3 tháng đầu và 3 tháng cuối thai kỳ. Giai đoạn 3 tháng đầu, thai có thể không phát triển gây sảy thai tự nhiên. Ở giai đoạn 3 tháng giữa, đặc biệt 3 tháng cuối thai kỳ có hiện tượng tăng tiết Insulin của thai nhi, làm thai nhi tăng trưởng quá mức. Có tỷ lệ từ 15% - 25% trẻ sơ sinh bị hạ glucose máu, mắc các bệnh lý chuyển hóa ở các người mẹ mắc ĐTĐ. Một tỷ lệ khoảng 30% trẻ tử vong ngay sau sinh do tình trạng thiếu oxy, ngoài ra trẻ sơ sinh có thể gặp các biến chứng như tăng hồng cầu; bị vàng da sơ sinh; về lâu dài trẻ dễ bị béo phì; mắc bệnh ĐTĐ khi ở độ tuổi 19-27 tuổi.

BS Đức khuyến cáo các thai phụ lớn tuổi (≥ 35 tuổi), nhiều con, béo phì, trước khi có thai, tăng cân quá mức trong thai kỳ, hội chứng buồng trứng đa nang; trong gia đình có người thân ruột thịt bị mắc ĐTĐ; tiền sử sản khoa có thai chết lưu, sinh con to, trong thai kỳ có tăng huyết áp, đa thai đều nên tầm soát ĐTĐ thai kỳ. Thời điểm tầm soát là từ tuần thứ 24-28 của tuổi thai, đây là thời điểm tốt nhất để phát hiện bất thường chuyển hóa carbohydrate trong thai kỳ. Đối với nhóm có nguy cơ cao nên xét nghiệm tầm soát sớm và nếu nghiệm pháp âm tính cần lặp lại khi tuổi thai 24-28 tuần. Nghiệm pháp để tầm soát là uống glucose 75 gam – 2 giờ.

Khi thai phụ đến khám lần đầu tiên vào 3 tháng đầu thai kỳ cần được xét nghiệm glucose máu lúc đói hoặc glucose máu bất kỳ. Khi thai kỳ bước vào tuần 24-28, 3 ngày trước khi tiến hành nghiệm pháp, thai phụ không ăn chế độ ăn có quá nhiều gluxit cũng không cần phải ăn kiêng để tránh ảnh hưởng kết quả nghiệm pháp. Nhịn đói 8-12 giờ trước khi làm nghiệm pháp. Cán bộ y tế sẽ lấy 2 ml máu tĩnh mạch để định lượng glucose máu ở 2 thời điểm 1 giờ và 2 giờ sau uống nước glucose 75 gam.

Để phòng ĐTĐ thai kỳ, phụ nữ có thai đặc biệt các thai phụ có nguy cơ cao cần có chế độ ăn hợp lý và hoạt động thể chất phù hợp. Về kiểm soát mức tăng cân trong thai kỳ, những thai phụ có chỉ số khối cơ thể bình thường (18,5 – 24,9 kg/m2) tăng 11,5 – 16 kg; thai phụ thừa cân (chỉ số khối cơ thể 25-29,9 kg/m2); tăng 7-11,5 kg đối với thai phụ béo phì (chỉ số khối cơ thể ≥ 30 kg/m2) chỉ khuyến cáo tăng 5-9 kg. Trước khi mang thai nếu bị thừa cân, béo phì cần thực hiện các biện pháp giảm cân. Ngoài ra thai phụ cần giảm ăn mặn, phòng tránh bệnh tăng huyết áp; nhiễm độc thai nghén, nên sử dụng dưới 5 gam muối/ngày và nên sử dụng muối i-ốt; không dùng các đồ uống kích thích như rượu, cà phê, thuốc lá, nước chè đặc; giảm ăn các gia vị như ớt, tiêu, tỏi. Các thai phụ cần chú ý nên tiếp tục duy trì thói quen ăn uống lành mạnh sau khi sinh. Về vận động tập thể dục cần chọn môn phù hợp như đi bộ, tập tay lúc ngồi với thời gian 30 phút/ngày. Đối với chế độ ăn, những thai phụ có nguy cơ cao nên được cán bộ y tế tư vấn dinh dưỡng; chọn lựa thực phẩm, loại thức ăn phù hợp để tránh dư thừa hoặc thiếu năng lượng cung cấp trong quá trình mang thai. Các bữa ăn nên chia nhỏ gồm 3 bữa chính và 2-3 bữa phụ, mục đích điều hòa glucose máu tránh tăng glucose máu nhiều sau ăn. Những thai phụ ĐTĐ thai kỳ cần có sự theo dõi chặt chẽ của các bác sĩ nội tiết – ĐTĐ và bác sĩ sản khoa.
Đức Bảo

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 213

Số lượt truy cập: 9351200

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang