Theo chuyên gia tim mạch, ECG là phương thức duy nhất có khả năng chẩn đoán được nhồi máu cơ tim ST chênh lên (STEMI). Nó là công cụ quan trọng nhất trong việc xác định thời điểm khởi phát biến cố mạch vành và tái thông mạch máu ngay lập tức. Nó đóng vai trò như là cơ sở duy nhất để quyết định rằng liệu bệnh nhân có cần liệu pháp tiêu sợi huyết hay can thiệp mạch cấp cứu hay không? Do đó, ECG vẫn là trung tâm của quá trình ra quyết định trong quản lý bệnh nhân hội chứng vành cấp.
ECG giúp cung cấp thông tin hữu ích đối với liệu pháp tái tưới máu đã thành công hay không.
ECG có thể xác định động mạch thủ phạm, định khu tổn thương nằm ở đầu gần hay đầu xa và qua đó dự đoán được mức độ, diện tích vùng cơ tim gặp nguy hiểm. Định danh động mạch thủ phạm còn giúp dự đoán các biến chứng có thể xảy ra dựa trên cơ sở bản đồ cấp máu của mạch vành.
Hội chứng vành cấp với ST chênh lên hầu như luôn luôn là do huyết khối làm tắc nghẽn hoàn toàn lòng mạch vành, kết quả là dòng máu cung cấp cho vùng cơ tim đó bị chấm dứt hoàn toàn. Tuy nhiên, điều này cũng có thể xảy ra vì co thắt vành.

ST chênh lên bởi huyết khối tắc nghẽn hoàn toàn lòng mạch sẽ luôn luôn dẫn đến hoại tử cơ tim. Vì vậy men tim sẽ tăng lên. Nếu mạch vành bị tắc không được tái thông kịp thời, sóng Q bệnh lý sẽ xuất hiện. Do đó mà thuật ngữ nhồi máu cơ tim ST chênh lên đồng nghĩa với nhồi máu cơ tim có sóng Q.
ST chênh lên do co thắt vành: Còn được gọi là đau thắt ngực Prinzmetal, thường chỉ thoáng qua và có thể đảo ngược được bằng thuốc giãn vành như nitroglycerin. Hoại tử cơ tim thường không xảy ra trừ khi co thắt vành kéo dài trên 20 phút.
Sự hiện diện của ST chênh lên trong bối cảnh của hội chứng vành cấp chỉ ra rằng toàn bộ độ dày của cơ tim đều bị thiếu máu. Kiểu thiếu máu cục bộ này được gọi là nhồi máu cơ tim xuyên thành.
Điện tâm đồ trong hội chứng vành cấp có thể chia thành 2 typ: ST chênh lên và không có ST chênh lên; ST chênh xuống; Sóng T đảo ngược. Những bất thường ít đặc hiệu khác của ST-T.

Theo các chuyên gia, những thay đổi ECG trong nhồi máu cơ tim ST chênh lên là ST chênh lên > 1mm ở ít nhất 2 chuyển đạo kế cận; LBBB mới (hoặc được cho là mới) khởi phát; Sự xuất hiện của sóng Q bệnh lý.
Hội chứng vành cấp thường là kết quả của sự nứt vỡ mảng xơ vữa gây ra tắc lòng mạch bởi huyết khối. Tùy thuộc vào độ nặng của tắc nghẽn mạch vành, tắc nghẽn huyết khối mà có thể gây ra thiếu máu cơ tim ở các mức độ khác nhau. Về cơ bản có thể chia thành nhồi máu cơ tim có hoặc không có ST chênh lên. Hai nhóm bất thường điện tim này khác nhau về mặt bệnh học, tiên lượng và điều trị.
Đối với đoạn ST chênh lên, hội chứng vành cấp với ST chênh lên trên ECG ám chỉ rằng 1 trong 3 động mạch vành thượng tâm mạc đã bị tắc hoàn toàn với dòng TIMI 0 (không có chất cản quang ở sau chỗ tắc khi chụp mạch vành). Huyết khối tắc nghẽn lòng mạch với ST chênh lên hầu như luôn luôn gây ra hoại tử tế bào biểu hiện bằng sự tăng lên của men tim troponin trong máu. Nếu tưới máu cơ tim không được phục hồi kịp thời, những thay đổi ở phức bộ QRS như sự phát triển của sóng Q hoặc sự giảm biên độ của sóng R sẽ xảy ra. Hội chứng vành cấp do co thắt vành cũng có thể gây ST chênh lên mặc dù co thắt vành thường chỉ thoáng qua và đáp ứng tốt với thuốc giãn vành như nitroglycerin.
Đối với ST không chênh lên: Khi lòng mạch vành chỉ bị tắc một phần bởi huyết khối, thiếu máu cơ tim có thể xảy ra hoặc không tùy thuộc vào mức độ tắc nghẽn, tuần hoàn bàng hệ và nhu cầu oxy của cơ tim. Ví dụ như lòng mạch bị hẹp đáng kể nhưng nhu cầu oxy của cơ tim không vượt quá khả năng cung cấp của dòng máu qua chỗ hẹp thì thiếu máu cơ tim cũng không xảy ra. Nếu thiếu máu cơ tim xảy ra nó có thể dẫn đến hoại tử cơ tim hoặc là không.
Nhồi máu cơ tim ST không chênh lên: Huyết khối làm tắc một phần lòng mạch vành kèm theo hoại tử tế bào cơ tim. Marker quan trọng nhất của hoại tử cơ tim chính là men tim troponin tăng lên trong máu. Chẩn đoán nhồi máu cơ tim ST không chênh lên (NSTEMI) sẽ không được thành lập nếu men tim không tăng. ECG có ST chênh xuống, sóng T đảo ngược hoặc những biến đổi bất thường ít đặc hiệu khác của phức bộ ST-T. Thỉnh thoảng, ECG có thể không cho thấy bất kỳ bất thường đáng kể nào.
Đau thắt ngực không ổn định: Trong đau thắt ngực không ổn định, biến đổi ECG giống y hệt như NSTEMI nhưng men tim lại không tăng.
Nhồi máu cơ tim cấp: Với sự ra đời của troponin – marker của hoại tử cơ tim, nhồi máu cơ tim cấp đã được định nghĩa lại tại Hội nghị đồng thuận của ESC/ACCF/AHA/WHF vào năm 2007 và coi men tim (troponin) chính là yếu tố trung tâm quyết định chẩn đoán nhồi máu cơ tim.
Hoại tử cơ tim: được xác định khi men tim troponin tăng hoặc giảm có ý nghĩa.
Thiếu máu cơ tim: bằng chứng thiếu máu cơ tim dựa vào những yếu tố sau đây:
- Triệu chứng lâm sàng của thiếu máu cục bộ.
- ECG thay đổi gợi ý thiếu máu cơ tim, bao gồm: Thay đổi mới trên ST-T; LBBB mới xuất hiện; Xuất hiện sóng Q bệnh lý.
- Bất thường về hình ảnh học.
- Mất thêm vùng cơ tim mới.
- Rối loạn vận động vùng mới xuất hiện.
Do đó, tăng men tim troponin chính là marker quan trọng nhất của hoại tử cơ tim. Chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp là không khả thi nếu men tim không tăng. Nếu đột tử do tim xảy ra trước khi xét nghiệm men tim được làm hoặc trước khi men tim bắt đầu tăng thì chẩn đoán nhồi máu cơ tim lúc này phụ thuộc vào lâm sàng và biến đổi động học của ECG.
Mai Trang