
Theo Tổ chức Y tế thế giới và Liên đoàn Đái tháo đường, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ gia tăng bệnh đái tháo đường nhanh nhất thế giới. Tại Việt Nam, trong 10 năm qua, số bệnh nhân mắc đái tháo đường (ĐTĐ) đã tăng đến 11% với gần 5 triệu người mắc và trong đó có hơn 60% số người vẫn chưa được chuẩn đoán bệnh.
Hàng năm ngân sách cho ngành Y tế của các quốc gia trung bình mất khoảng 5-10% cho điều trị bệnh ĐTĐ, trong đó chi phí chủ yếu là dành cho điều trị biến chứng ĐTĐ. Rất nhiều người bệnh và gia đình cũng như các cơ sở y tế đang phải chịu những gánh nặng về kinh tế cho chi phí rất lớn trong điều trị căn bệnh này.
Từ tháng 10/2015 đến tháng 5/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Trần Thị Phương cùng cộng sự Trường Đại học Y Dược Thái Bình thực hiện nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang, báo cáo đề tài “Kiến thức và thực hành phòng chống bệnh của người bệnh đái tháo đường tuýp 2 điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình”.
Đối tượng nghiên cứu là người bệnh ĐTĐ tuýp 2 đang được quản lý điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình.
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:
Người bệnh ĐTĐ tuýp 2 đang được quản lý điều trị tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình.
Không bị các vấn đề về sức khỏe tâm thần, không thể nghe rõ và trả lời câu hỏi phỏng vấn.
BS Trần Thị Phương phân tích báo cáo, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người bệnh biết các biến chứng ĐTĐ rất cao (trên 90%). Phần lớn đối tượng nghiên cứu biết biến chứng bệnh ĐTĐ có thể phòng được với 87,4%.
Tác giả nghiên cứu cho biết, khám mắt định kỳ 3-6 tháng 1 lần giúp người bệnh phát hiện sớm các bất thường về mắt và có phương pháp điều trị kịp thời nhằm phòng biến chứng mắt và nguy cơ mù lòa. Để phòng ngừa biến chứng bàn chân, mà hậu quả là cắt cụt chi. Về kết quả nghiên cứu tỷ lệ người bệnh tự bảo vệ chăm sóc chân bằng cách đi giầy dép là 77,1%; chăm sóc bàn chân buổi tối hàng ngày là 24,1%.
Tỷ lệ người bệnh dùng thuốc đúng theo hướng dẫn là 46,5%.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người bệnh có thực hiện chế độ ăn bệnh lý là 92,1%, sử dụng các thực phẩm giàu đạm đa dạng trên 90%; uống rượu bia, ăn đồ xào rán, hoa quả ngọt ở trong mức cho phép đều đạt trên dưới 80%.
Tuy nhiên, tỷ lệ người bệnh còn hút thuốc lá (16,9%) và ăn phủ tạng động vật vẫn còn (20,8%).

Tác giả cho rằng hiện nay càng ngày người bệnh càng quan tâm đến chế độ dinh dưỡng hợp lý và thực hành ăn uống khoa học để phòng chống biến chứng ĐTĐ. Mặc dù vậy vẫn còn một số đối tượng thực hành ăn uống chưa tốt, ví dụ biết tác hại của thuốc lá nhưng do thói quen khó bỏ, điều này cho thấy nhân viên y tế cần tăng cường tư vấn truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh hơn nữa để người bệnh có thể thay đổi trong hành vi thực hành của mình.
Tỷ lệ đối tượng có luyện tập thể lực trong nghiên cứu này là 82,6%, có đi giày/dép khi luyện tập là 81,4%, luyện tập hàng ngày là 63%. Điều này cho thấy, thực hành về vận động của đối tượng còn nhiều hạn chế cần tăng cường tư vấn truyền thông để người bệnh thực hành đạt cao hơn. Phần lớn người bệnh ĐTĐ khi đi tập thể dục hoặc đi xa thường không có thói quen mang theo bánh ngọt/kẹo và nước uống. Điều này là không đúng, các chuyên gia khuyên rằng tuy là bị bệnh ĐTĐ nhưng khi đi tập luyện thể dục nên đi có bạn và mang theo bánh kẹo ngọt để phòng chống biến chứng ĐTĐ. Nhất là khi một số người bệnh đi tập thể dục buổi sáng mà chưa ăn uống gì là vô cùng nguy hiểm.
BS Phương có kết luận cho nghiên cứu, kiến thức về nguyên nhân gây bệnh do ăn uống dư thừa được 78,7% đối tượng nghiên cứu biết đến, 61.3% người trả lời là do lười vận động, 29,8% cho biết nguyên nhân của bệnh là di truyền; có 16,9% đối tượng nghiên cứu không biết nguyên nhân gây bệnh ĐTĐ.
Tỷ lệ người bệnh biết biến chứng thường gặp của bệnh ĐTĐ: Tim mạch (91,4%), mắt (91,9%), thận (91,4%), bàn chân (90,9%), thần kinh (92,6%).
Đa số (96%) các đối tượng nghiên cứu cho rằng bệnh ĐTĐ phải điều trị kéo dài, suốt đời; hơn 95,5% biết cách dùng thuốc ĐTĐ là phải đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng thời gian.
Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về chế độ luyện tập phòng chống biến chứng ĐTĐ: Môn thể thao nên tập như: đi bộ nhanh là 99,5%, chạy chậm là 40,1%. Tần suất nên tập trong tuần từ 5 lần trở lên là 74,0%.
Tất cả các đối tượng (100%) đối tượng xử trí đúng khi bị hạ đường huyết; 77,1% đã bảo vệ bàn chân bằng đi giày dép hàng ngày.
Tỷ lệ người bệnh có thực hiện chế độ ăn điều trị bệnh là 92,1%, sử dụng các thực phẩm giàu đạm đa dạng là trên 90%.
Tỷ lệ đối tượng có luyện tập thể lực là 82,6%; luyện tập hàng ngày là 63%, thời gian tập phù hợp là 50,6%.
Phúc Nguyên