
Theo Cục Y tế dự phòng – Bộ Y tế, ước tính năm 2016, có 31% số trường hợp tử vong trên toàn quốc là do bệnh tim mạch. Đái tháo đường và tăng huyết áp là hai nguyên nhân quan trọng của bệnh tim mạch. Báo cáo điều tra quốc gia 2015 cho kết quả, cứ 5 người trưởng thành Việt Nam có 01 người bị tăng huyết áp; 20 người có 01 người đái tháo đường. Theo đó Việt Nam có khoảng 12 triệu người tăng huyết áp; 3 triệu người đái tháo đường. Có gần 60% người mắc tăng huyết áp, gần 70% người mắc đái tháo đường chưa được phát hiện bệnh; chỉ có khoảng 14% bệnh nhân tăng huyết áp, 29% bệnh nhân đái tháo đường hiện đang được điều trị; gần 30% người có nguy cơ bệnh tim mạch được quản lý, dự phòng.
Theo các chuyên gia tim mạch, đích huyết áp cần đạt ở người > 18 tuổi: Mục tiêu < 140/90 mmHg. Người già: Huyết áp tâm thu 150-140 mmHg. Đái tháo đường, bệnh thận mạn < 140/90 mmHg. Xem xét mục tiêu huyết áp thấp hơn ở bệnh nhân đái tháo đường, bệnh thận mạn, nguy cơ cao (cá thể hóa điều trị).
Thay đổi lối sống để phòng chống tăng huyết áp: Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng. Giảm mặn: <100mmol Na hay < 5g (1 thìa càphê) muối mỗi ngày. Tăng cường rau xanh, hoa quả tươi, nhiều xơ, protein thực vật. Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và acid béo no. Giảm cân nếu quá cân, duy trì cân lý tưởng BMI 18,5-23kg/m2. Duy trì vòng bụng dưới 90cm ở nam và dưới 80cm ở nữ. Hạn chế uống rượu, bia: nam < 3 cốc/ngày hoặc nữ < 2 cốc/ngày và tổng cộng nam < 14 cốc/tuần hoặc nữ < 9 cốc/tuần (cốc tiêu chuẩn: 340ml bia hoặc 140ml rượu vang, hoặc 40ml rượu nặng). Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào. Hoạt động thể lực, đều đặn 30-60 phút/ngày, 5-7 ngày/tuần. Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh, stress; thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý. Tránh bị lạnh đột ngột.
Điều trị dự phòng phối hợp ở người tăng huyết áp:
- Cần điều trị các bệnh mạn tính phối hợp, đồng thời kiểm soát chặt các yếu tố nguy cơ tim mạch kèm theo và điều trị dự phòng biến cố tim mạch ở nhóm có nguy cơ tim mạch tổng thể cao hoặc rất cao. Cân nhắc phối hợp với:
- Aspirin liều thấp 80-100 mg/ngày (nhất là ở người đã có tiền sử biến cố tim mạch như nhồi máu cơ tim hoặc tai biến máu não).
- Hạ LDL-C bằng statin để đạt LDL-C mục tiêu lần lượt < 1,82 mmol/L (70mg/dL); 2,58 mmol/L (100mg/dL) hoặc 3,36 mmol/L (130mg/dL) phụ thuộc vào việc đã có bệnh động mạch vành, nguy cơ bệnh động mạch vành cao (>20%/10 năm) hoặc trung bình (<20%/10 năm).
- Kiểm soát đường huyết chặt chẽ để đạt HbA1c < 7%.
- Thay đổi lối sống tích cực: tránh béo phì/quá cân, bỏ hoàn toàn hút thuốc lá/thuốc lào, kết hợp với vận động thể lực và thay đổi chế độ ăn.
Quản lý tăng huyết áp theo y học gia đình:
- Mục tiêu điều trị cần được cá thể hóa dựa vào lợi ích trước mắt, lợi ích lâu dài, các tác dụng phụ và giá thành điều trị dài hạn trên cơ sở đánh giá toàn diện huyết áp, các yếu tố nguy cơ tim mạch, tổn thương cơ quan đích và các bệnh lý mạn tính kèm theo.
- “Huyết áp mục tiêu” cần đạt: < 140/90mmHg và thấp hơn nữa nếu vẫn dung nạp được; < 130/80mmHg đối với những người có protein niệu, có đái tháo đường hoặc đã có tiền sử tai biến mạch não từ trước; 150/90mmHg đối với người cao tuổi (đặc biệt khi > 80 tuổi).
- Tránh hạ huyết áp quá mức, tránh hạ huyết áp tâm trương dưới 60 mmHg ở người có bệnh mạch vành.
Quản lý và chuyển tuyến:
Quản lý tăng huyết áp tại tuyến cơ sở, cần đảm bảo người bệnh được uống thuốc đúng, đủ và đều; đồng thời giám sát quá trình điều trị, tái khám, để phát hiện sớm các biến chứng và tác dụng phụ.
Cân nhắc chuyển đến các đơn vị quản lý tăng huyết áp tuyến trên hoặc chuyên khoa tim mạch nếu vẫn không đạt huyết áp mục tiêu hoặc có biến cố.
- Tăng huyết áp tiến triển: tăng huyết áp đe dọa có biến chứng (tai biến mạch não thoáng qua, suy tim …) hoặc khi có các biến cố trên cơ quan đích (tim mạch, thận, não, mắt, động mạch ngoại vi).
- Nghi ngờ tăng huyết áp thứ phát hoặc tăng huyết áp ở người trẻ hoặc khi cần đánh giá mức độ các tổn thương cơ quan đích.
- Tăng huyết áp kháng trị: khi đã phối hợp > 3 loại thuốc khác nhóm (ít nhất có 1 thuốc lợi tiểu) mà vẫn không đạt huyết áp mục tiêu hoặc dù đạt huyết áp mục tiêu với > 4 loại thuốc phối hợp, hoặc không dung nạp với các thuốc hạ áp, hoặc quá nhiều bệnh phối hợp.
- Tăng huyết áp ở phụ nữ có thai hoặc một số trường hợp đặc biệt khác.
Kết luận: Tăng huyết áp là bệnh lý phổ biến thường gặp; việc điều trị cần phối hợp giữa thầy thuốc – Thuốc – Bệnh nhân. Hiểu và gắn kết với bệnh nhân là khác biệt quan trọng để nâng cao hiệu quả điều trị.
Trần Mai