Tác giả Nguyễn Xuân Hiền – Bệnh viện Bạch Mai cùng cộng sự Trường Đại học Y tế Hải Dương tiến hành nghiên cứu “Đặc điểm hình ảnh và giá trị của siêu âm trong chẩn đoán ung thư vú”.
Nghiên cứu được tiến hành trên 120 bệnh nhân đến khám ung thư vú tại Bệnh viện K, từ tháng 01/2013 đến tháng 8/2013. Máy siêu âm sử dụng trong nghiên cứu là Aloka, Medison, đầu dò phăng 7,5-10MHz. Kết quả nghiên cứu cho thấy độ tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 49,4; bệnh nhân trẻ nhất là 31 tuổi, lớn nhất 75 tuổi. Nhóm tuổi nhiều nhất là 41-60 tuổi với 62%. Theo tác giả nghiên cứu, lý do vào viện của đối tượng nghiên cứu sờ thấy khối, không đau ở tuyến vú chiếm tỷ lệ 83,7%; sờ thấy khối đau chiếm tỷ lệ 13%; đau vú 1,1%; người bệnh đi kiểm tra sức khỏe có tỷ lệ 2,2%. Về khối u tại vú bên vú phải chiếm tỷ lệ 56,5%; khối u bên vú trái chiếm tỷ lệ 41,3%, khối u ở cả hai bên vú chiếm 2,2%. Về số lượng khối u, chỉ có một u chiếm 96,7%; từ 2 khối u tỷ lệ chiếm 3,3%. Về vị trí của khối u trên tuyến vú; vị trí ở ¼ trên ngoài chiếm tỷ lệ hơn một nữa là 51,1% tiếp đến là khối u gặp ở ¼ trên trong chiếm 25%, vị trí ¼ dưới ngoài chiếm 13%; ¼ dưới trong chiếm tỷ lệ 8,7%; khối u ở vị trí trung tâm chiếm tỷ lệ 2,2% ít nhất.
Về kích thước u, kết quả nghiên cứu chia 3 mức dưới 2cm chiếm tỷ lệ 3,2%; kích thước u từ 2-5cm chiếm tỷ lệ nhiều nhất 85,9%; trên 5cm có tỷ lệ 10,9%.

Tác giả Nguyễn Xuân Hiền phân tích đặc điểm, dấu hiệu trên siêu âm gồm các dấu hiệu hình khối, hình đa diện khó định dạng; đường bờ nham nhở, hình sao, ranh giới không rõ; khối u tổn thương giảm âm, mật độ không đều, tổn thương chứa vôi hóa, xâm lấn da và thành ngực và khối tổn thương hình khối chiếm tỷ lệ gần 99%, tổn thương có đường bờ nham nhở, hình sao chiếm 93%, tổn thương có mật độ không đều chiếm tỷ lệ 88%; tổn thương giảm âm chiếm tỷ lệ gần 86%. Tác giả phân tích các dấu hiệu có giá trị dự báo ung thư vú cao bao gồm tổn thương có chỉ số D/W lớn hơn 1 chiếm tỷ lệ 96%, tổn thương hạch nghi ngờ ác tính chiếm tỷ lệ 95,5%, tổn thương chứa vôi hóa chiếm 90,3%, tổn thương có ranh giới không rõ chiếm tỷ lệ 88%, tổn thương có đường bờ nham nhở, hình sao chiếm tỷ lệ 82,7%.
Bác sỹ Nguyễn Xuân Hiền, báo cáo giá trị chẩn đoán của siêu âm theo BI-RADS cho độ nhạy và độ chính xác lần lượt là 94,5% và 91,6%. Ở nhóm bệnh nhân trẻ tuổi, siêu âm cho độ nhạy và độ chính xác (100% và 94%) cao hơn so với nhóm lớn tuổi (93% và 90,8%). Như vậy các dấu hiệu ung thư vú trên siêu âm đều khá rõ ràng, những dấu hiệu có độ nhạy cao như tổn thương hình khối, đa diện khó định dạng, bờ không đều, ranh giới không rõ, những dấu hiệu có độ nhạy thấp nhưng độ đặc hiệu cao như tổn thương xâm lấn, tổn thương chứa vôi hóa, hạch di căn. Siêu âm có ưu thế khi thực hiện đối với nhóm bệnh nhân trẻ tuổi, nhóm có mô vú thuộc týp vú đặc.
Chúng ta biết rằng ung thư vú xuất hiện khi tế bào vú bắt đầu tăng trưởng bất thường. Các tế bào này sinh sôi nhanh hơn các tế bào lành và tụ lại thành khối bướu. Thường ung thư mọc từ tế bào các ống dẫn sữa gọi là ung thư ống dẫn, cũng có thể từ mô tuyến gọi là các tiểu thùy (ung thư tiểu thùy) hoặc từ các loại tế bào khác trong vú. Các tế bào có thể lan tràn đến các hạch lympho và các nơi khác trong cơ thể.
Tỷ lệ ung thư vú tăng theo tuổi, bị ung thư một bên vú thì có nguy bị ung thư vú bên kia tăng lên. Có khoảng 5-10% ung thư vú liên hệ tới các đột biến gen truyền qua nhiều thế hệ trong một gia đình, làm gia tăng nguy cơ ung thư vú lẫn ung thư buồng trứng. Các yếu tố như béo phì, có kinh sớm, mãn kinh trễ, không có con, uống rượu, hút thuốc lá nguy cơ mắc bệnh tăng lên.
Để phát hiện bệnh sớm người phụ nữ cần khám vú hàng tháng, siêu âm định kỳ vú giúp nhiều phụ nữ đến bác sĩ khám ở giai đoạn còn trị liệu tốt. Có thể chụp nhũ ảnh tìm phát hiện sớm bệnh ung thư vú khi từ 40 tuổi trở lên.
Để phòng tránh ung thư vú cần giữ cân đúng, tập thể dục đều đặn mỗi ngày. Đi bộ, bơi lội, yoga, thái cực quyền. Ngủ đủ 7-8 giờ/ngày. Sống giảm những âu lo, thư giãn, tránh xa khói thuốc, không uống rượu, ăn nhiều rau quả, ăn ít chất béo và ít thịt.
Trần Hưng