[Đăng ngày: 15/03/2017]
Ngoại ký sinh (NKS) chủ yếu là những loài chân đốt sống ký sinh ngoài cơ thể động vật và người. Một số NKS cần chú ý vì đóng vai trò trung gian truyền bệnh.
Có 4 nhóm được quan tâm nghiên cứu nhiều là bọ chét, ve, mò và mạt. Các nhóm này là vectơ của nhiều dịch bệnh từ động vật hoang dại sang người; chúng phát triển đa dạng trên nhiều vật chủ, ở các môi trường, điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau; số lượng phong phú, thành phần đa dạng và cách gây bệnh khác nhau.
Việt Nam có sinh địa cảnh đa dạng, hệ động thực vật phong phú, đa dạng, điều kiện khí hậu nóng, ẩm. Tập quán sinh hoạt, canh tác của người dân tạo điều kiện thuận lợi cho các loài NKS phát triển.
Nhóm tác giả nghiên cứu Lê Thành Đồng cùng cộng sự Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng TP Hồ Chí Minh từ năm 2010 đến 2013 đã tiến hành đề tài nghiên cứu “ Thành phần Loài và phân bố một số nhóm ngoại ký sinh tại một số điểm ở khu vực Nam bộ - Lâm Đồng”. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ vật chủ nhiễm NKS tại 11 điểm nghiên cứu là 60,1%. Trong đó gia súc nhiễm 50,9%; gia cầm 59,9% và động vật hoang dại 63,6%; có 49 loài NKS của Bọ chét (Siphonaptera), Ve (Isodoidea); mò (Trombiculidae); mạt (Gamasoidea).
Theo báo cáo của tác giả Lê Thành Đồng, việc thu nhập động vật hoang dại khi nghiên cứu rất khó, phần lớn thu thập được là chuột; thường thành phần loài chân đốt NKS ở các địa phương phụ thuộc chủ yếu vào sự phong phú của loài gậm nhấm. Có gần 9.400 cá thể các nhóm ngoại sinh được thu thập, số lượng cá thể Mạt hơn 3000 chiếm tỷ lệ nhiều nhất 32,4%; ít nhất là họ ve cứng (15,6%). Tổng số loài phát hiện là 49 loài, thuộc 19 giống; 6 họ. Trong đó bộ Bọ chét có 6 loài, thuộc 3 giống, 1 họ; họ ve cứng có 6 loài, thuộc 3 giống; 1 họ; họ mò có 21 loài, thuộc 8 giống, 1 họ; liên họ mạt có 16 loài, thuộc 5 giống, 3 loài. Theo tác giả nghiên cứu, thành phần loài NKS phát hiện trong nghiên cứu chỉ phản ánh một phần thực tế, vì một số loài hoạt động mạnh vào mùa mưa, một số khác lại hoạt động mạnh vào mùa khô.
Tác giả nghiên cứu cũng cho biết có 11 loài NKS có vai trò y học tại các điểm nghiên cứu: Bọ chét Siphonaptera có 3 loài: pulex irritans, Xenopsylla astia, Xenopsylla cheopis; liên họ Ve có 3 loài: ixodoidea có Boophilus microciphus, Rhipicephalus haemaphysaloides, Rhipicephalus sanguineus; họ Mò Trombiculidea có 3 loài: Ascoschoengastia (Lau.) indica, Gahrliepia (walchia) chinensis, Leptotrombidium (L.) deliense; liên họ Mạt Gamasoidea có 2 loài: Laelaps sedlaceki, Ornithonissus bacoti. Tỷ lệ % đa dạng sinh học của 4 nhóm NKS là 16,7%. Trong đó tỷ lệ đa dạng sinh học của liên họ Mạt là 22,2%, họ Mò 19,6%, bộ Bọ chét 17,5% và họ Ve cứng 8,8%. Tương quan thành phần loài của 4 nhóm NKS giữa các điểm nghiên cứu của vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ: bộ Bọ chét, họ Mò và liên họ Mạt là “gần ít” và họ Ve cứng có mối tương quan “khác ít”.
Huy Hoàng
  
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 278

Số lượt truy cập: 9360074

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang