[Đăng ngày: 02/04/2017]
Tăng huyết áp là một bệnh tim mạch thường gặp và tần suất mắc ngày càng gia tăng. Bên cạnh đó, đái tháo đường týp 2 ngày càng gia tăng ở các nước đang phát triển. Các nghiên cứu cho thấy khoảng 30-40% bệnh nhân tăng huyết áp có kèm đái tháo đường týp 2 sẽ làm gia tăng các biến chứng tổn thương cơ quan đích như thận, tim…
Các nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ đạm niệu vi lượng tăng rất cao khoảng 30-50%. Đạm niệu vi lượng có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá, tiên lượng bệnh, giúp cho việc điều trị thích hợp hơn. Đạm niệu vi lượng là dấu hiệu sớm của bệnh lý thận ở bệnh nhân tăng huyết áp, đái tháo đường. Nhiều nghiên cứu đã tìm hiểu tại sao sự thảo albumin niệu có liên quan nhiều đến các biến chứng ngoài thận.
Bên cạnh đó, mối liên quan giữa đạm niệu vi lượng và một số yếu tố nguy cơ tim mạch chặt chẽ qua các nghiên cứu. Việc phát hiện sớm biến chứng đạm niệu vi lượng sẽ giúp ngăn chặn và điều trị giảm nguy cơ tim mạch và biến chứng thận ở bệnh nhân tăng huyết áp kèm đái tháo đường týp 2.
Tác giả Trần Viết An và Nguyễn Văn Nhuẫn- Trường Đại học Y Dược Cần Thơ đã tiến hành nghiên cứu “Một số yếu tố liên quan với đạm niệu vi lượng ở bệnh nhân tăng huyết áp kèm theo đái tháo đường týp 2”. Đây là nghiên cứu cắt ngang với 270 đối tượng nghiên cứu phù hợp được chọn tham gia. Kết quả cho thấy tỷ lệ đạm niệu vi lượng dương tính ở đối tượng nghiên cứu là 34,4%. BS. Trần Viết An phân tích, tỷ lệ đạm niệu vi lượng dương tính xuất hiện tăng dần theo nhóm tuổi. Tuổi là yếu tố nguy cơ ngẫu nhiên, quan trọng trong lâm sàng và không thay đổi. Từ 25-34 tuổi, khi tuổi tăng thêm 10 năm thì khả năng tăng huyết áp (THA) tăng gấp 4 lần; từ 65 tuổi trở đi nguy cơ THA gấp hơn 39 lần. THA là nguyên nhân hàng đầu gây tổn thương thận dẫn đến tiểu đạm. Do đó, tỷ lệ vi đạm niệu dương tính tăng theo tuổi là phù hợp.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có 40,7% bệnh nhân béo phì có đạm niệu vi lượng dương tính; trong khi nhóm bệnh nhân không béo phì tỷ lệ này là 29,3%. Có những nghiên cứu khác cho kết quả đa số bệnh nhân đạm niệu vi lượng dương tính có tỷ lệ vòng bụng/vòng mông tăng, chiếm 61,5%. Những trường hợp vòng bụng/ vòng mông trên 0,9 đối với nam và trên 0,8 đối với nữ thì nguy cơ đạm niệu vi lượng dương tính cao gấp 2,4 lần đối với những trường hợp vòng bụng trên vòng mông ở ngưỡng bình thường. 
Đối với mực độ nặng của THA, đặc biệt huyết áp tâm thu; tỷ lệ niệu đạm vi lượng dương tính cao mức một (+) đối với THA độ I; (++) đối với THA độ II và (+++) đối với THA độ III. Những bệnh nhân THA trên 5 năm có tỷ lệ đạm niệu vi lượng cao hơn so với nhóm bệnh nhân THA dưới 5 năm. Đối với những bệnh nhân đái tháo đường týp 2, tỷ lệ đạm niệu vi lượng dương tính tăng dần theo thời gian phát hiện bệnh đái tháo đường; thời gian phát hiện bệnh đái tháo đường càng dài thì nguy cơ xuất hiện vi đạm niệu (+) càng cao. Tổ chức Đái tháo đường thế giới đề nghị mục tiêu kiểm soát glucose máu với glucose máu lúc đói dưới 6,0 mmol/L và HbA1C dưới 6,5. 
Trong nghiên cứu này, BS.An cho biết những bệnh nhân có đường máu > 7 mmol/L có tỷ lệ đạm niệu vi lượng dương tính cao hơn những bệnh nhân có đường máu < 7 mmol/L. Bs.An cũng báo cáo kết quả một nghiên cứu của nước Anh trên 4.000 bệnh nhân, cho thấy cứ giảm được 1% HbA1C thường kết hợp với giảm 25% biến chứng vi mạch; 18% nguy cơ nhồi máu cơ tim và giảm 17% nguy cơ tử vong. BS.An nhấn mạnh việc kiểm soát đường máu thể hiện qua nồng độ đường huyết đói và nồng độ HbA1C với vi đạm niệu có mối liên quan với nhau. Kiểm soát tốt đường huyết có thể làm giảm tỷ lệ có đạm niệu vi lượng. Vì vậy, rất cần một chiến lược quản lý tốt để nâng cao nhận thức của bệnh nhân về tầm quan trọng của việc kiểm soát đường huyết cũng như thu hẹp khoảng cách giữa hướng dẫn điều trị và thực hành lâm sàng.
Một nghiên cứu khác của tác giả Nguyễn Thị Xuân cùng cộng sự Bệnh viện Tim Hà Nội về “Nồng độ cystatin máu trên bệnh nhân tăng huyết áp có biến chứng thận” trên 78 bệnh nhân không có tiền sử mắc bệnh thận trước đó, không dùng thuốc cản quang trong vòng 1 tuần, không điều trị bằng cylosporin cho kết quả xét nghiệm cystain C máu hoàn toàn có thể thay thế xét nghiệm creatinin trong đáng giá chức năng thận, không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như tuổi, giới, thể trạng và phản ánh sự giảm chức năng thận sớm hơn creatinin khi chức năng thận giảm nhẹ.
Đây cũng là một nghiên cứu cắt ngang; tác giả nghiên cứu ước tính mức lọc cầu thận dựa vào creatinin bằng công thức của Cockcrof Gault: GFR = (140 – tuổi) x cân nặng (kg) x 0,85 (nếu là nữ); tất cả chia cho 0,184 x nồng độ Creatinin máu (µmol/L). Ước tính mức lọc cầu thận dựa vào cystatin C từ công thức Stevens LA: GFR bằng 76,7 nhân với CysC.
Tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Xuân đã có kết luận giá trị của xét nghiệm cystain C trong đánh giá chức năng thận ở bệnh nhân THA, cụ thể Cystatin C (khác với creatinin) không bị ảnh hưởng bởi tuổi, giới, BMI; tương quan giữa nồng độ cystatin C máu với mức lọc cầu thận ước tính (eGFR) chặt chẽ hơn tương quan giữa creatinin máu với eGFR (r=-1 so với r= -0,7284; p<0,05). Ở giá trị eGFR tới hạn là 60ml/ph, diện tích dưới đường cong (AUC) của hai xét nghiệm là như nhau. Ở giá trị eGFR tới hạn là 90ml/ph, AUCcys lớn hơn AUCcre, nghiên cứu cho thấy cystatin C có độ nhạy và độ đặc hiệu hơn creatinin trong chẩn đoán suy giảm chức năng thận nhẹ (60<GFR<90).
Huy Hoàng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 221

Số lượt truy cập: 9360694

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang