Ngộ độc gây liệt cơ (PSP – Paralytic shellfish poisoning) là triệu chứng ngộ độc xảy ra khi con người ăn phải các sinh vật biển có chứa độc tố.
Trong trường hợp nhẹ nạn nhân có triệu chứng ngứa ran hoặc tê quanh môi, sau đó lan dần mặt và cổ; trường hợp nặng có thể gây mất vận động, khó thở do liệt cơ hô hấp và dẫn đến tử vong. Một số hợp chất quan trọng của nhóm độc tố PSP gồm saxitoxin, neosaxitoxin và các gonyautoxin. Theo tiêu chuẩn châu Âu, Mỹ quy định hàm lượng tối đa của các độc tố PSP trong thủy sản là 800µg/kg.

Tại Việt Nam ghi nhận nhiều trường hợp ngộ độc do ăn phải thực phẩm hải sản biển. Năm 2006 tại Tp. Nha Trang có 165 người nhập viện do ăn phải tôm và cua được xác định có độc tố gây liệt cơ saxitoxin. Năm 2015 tại Lý Sơn, Quãng Ngãi có 03 người nhập viện sau khi ăn cua mặt quỷ, có các triệu chứng của ngộ độc PSP. Việt Nam đã ban hành tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) sử dụng phương pháp HPLC – FLD trên cơ sở AOAC để xác định các độc tố PSP, tuy nhiên phương pháp này vẫn gặp những khó khăn trong quá trình xác định các chất thuộc nhóm độc tố PSP do hạn chế về tính đặc hiệu, nhất là những mẫu phức tạp như đối với cua biển.
Tại Hội nghị khoa học an toàn thực phẩm lần thứ 8 được tổ chức tại Tp. Nha Trang vào tháng 4/2017, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Hà Bình cùng cộng sự Viện Kiểm nghiệm An toàn vệ sinh thực phẩm Quốc gia; Trường Đại học Khoa học tự nhiên; Đại học Quốc gia Hà Nội; Cục An toàn thực phẩm đã báo cáo đề tài nghiên cứu “Xác định đồng thời một số độc tố gây liệt cơ trong cua biển bằng LC – MS/MS”; đây là phương pháp sắc ký lỏng khối phổ 2 lần. Theo tác giả nghiên cứu Hà Bình về đối tượng nghiên cứu, trong nhóm độc tố gây liệt cơ PSP, 6 chất hay gặp và có độc tính cao hơn hẳn thuộc nhóm carbamoyl là saxitoxin; Neosaxitoxin; Gonyautoxin 1-4; Gonyautoxin 2-3.
Mẫu cua biển được lấy tại các chợ ở Hà Nội từ tháng 9-10/2015. Mẫu lấy về được mã hóa và sơ chế trước khi phân tích. Cua được bỏ vỏ, lấy phần thịt và nội tạng, để ráo nước, khối lượng tối thiểu thu được ở mỗi mẫu là 200 gam. Sau đó đem xay nhuyễn thịt cua và cân khoảng 5g mẫu vào ống ly tâm 15ml. Toàn bộ mẫu được trữ trong tủ đông -20 độ C. Mẫu trước khi phân tích được rã đông về nhiệt độ thường. Các điều kiện về dung môi chiết, làm sạch được kiểm soát để lựa chọn quy trình chiết độc tố PSP tối ưu. Đối với phương pháp sắc ký lỏng khối phổ 2 lần các độc tố được tách qua cột sắc ký lỏng dạng HILIC, phát hiện và định hướng bằng LC-MS/MS với nguồn Ion hóa ESI (+); chế độ quét đa phản ứng MRM. Mỗi độc tố lựa chọn ít nhất một ion mẹ để bắn phá và thu được 2 ion con, 1 ion dùng để định lượng và 1 ion dùng để định tính.
Theo chia sẻ của tác giả nghiên cứu, nền mẫu cua biển là nền mẫu rất phức tạp do chứa nhiều protein, hàm lượng và các ion kim loại nặng lớn nên việc lựa chọn dung môi chiết và quy trình xử lý mẫu là rất quan trọng để chiết xuất được PSP và loại trừ được tạp chất và ảnh hưởng của nền mẫu. Độc tố gây liệt cơ là các chất phân cực mạnh, tan rất tốt trong nước, bền trong môi trường PH2-4 nên các dung môi phân cực như nước có chứa axit clohydric 0,1N, axit axetic 1%, axit formic 0,1% thường được sử dụng trong nghiên cứu.
Tác giả nghiên cứu kết luận phương pháp xác định đồng thời 8 độc tố gây liệt cơ trong cua biển bằng LC-MS/MS sử dụng cột HILIC (TSK-gel Amide 80) đã được xây dựng và thực hiện với các điều kiện xử lý mẫu được tối ưu. Phương pháp đã được kiểm định đáp ứng được đặc hiệu theo tiêu chuẩn EC, khoảng tuyến tính tốt trong khoảng nồng độ từ 300-5.000 µg/kg, giới hạn định lượng của tất cả các độc tố PSP (300 µg/kg) đều thấp hơn mức giới hạn tối đa (quy định của châu Âu là 800 µg/kg). Trong 30 mẫu nghiên cứu chưa phát hiện mẫu nào có chứa độc tố PSP.
Nhóm nghiên cứu kiến nghị cần ban hành giới hạn cho phép độc tố PSP trong một số loài thủy sản đồng thời mở rộng kiểm soát trên một số loài thủy sản khác như ngao, hàu…
Mai Trang