
Nghe kém là hiện tượng giảm một phần hay toàn bộ khả năng cảm nhận về âm thanh. Nghe kém có thể gặp ở mọi lứa tuổi và có thể do nhiều nguyên nhân gây ra. Đối với trẻ nghe kém, nếu không phát hiện và điều trị kịp thời trẻ sẽ không giao tiếp được, làm cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ, trí tuệ và gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống.
Trong 2 năm 2015-2016, nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Thế Hiền và Đặng Bé Nam- Khoa Y Dược- Trường Đại học Trà Vinh tiến hành đề tài nghiên cứu khiếm thính trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Cà Mau. Nghiên cứu có hai mục tiêu (1) xác định tỷ lệ khiếm thính trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau, (2) đánh giá mối liên quan trẻ sơ sinh khiếm thính với các yếu tố nguy cơ. Đây là nghiên cứu cắt ngang, tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu là các bé sơ sinh sinh ra được 2 ngày tuổi trở lên (48 giờ) đều được chuyển tới Khoa Nhi sơ sinh để đo thính lực. Một số trường hợp sinh mổ có gây mê sẽ được đo chậm hơn khoảng 3-4 ngày sau sinh và trước khi ra viện. Các trẻ đều có cân nặng trên 2000gam, nằm với mẹ ổn định hô hấp, tiêu hóa. Về phương tiện dụng cụ, phòng đo thính lực trẻ sơ sinh là phòng yên tĩnh, đo âm nền không quá 50dB; các dụng cụ gồm đèn soi tai, ống nghe cho trẻ nhỏ, máy đo âm ốc tai.
Theo phân tích của BS.Phạm Thế Hiền, nhóm nghiên cứu đã thực hiện tầm soát khiếm thính bằng nghiệm pháp đo âm ốc tai bằng máy đo âm ốc tai OAE loại Echo Screen, hãng Natus-USA cho 4.800 trẻ sơ sinh. Kết quả đo âm ốc tai lần 1 có 54 trẻ có OAE âm tính (1,1%). Trong số 54 trẻ có kết quả đo âm ốc tai OAE âm tính lần 1, sau khi được khám tai và được đo OAE lần 2, kết quả có 47 trẻ có OAE âm tính. Như vậy, qua 2 lần đo kiểm tra, tỷ lệ khiếm thính của trẻ sơ sinh tỉnh Cà Mau là 0,98%.
Trong số 47 trẻ sơ sinh khiếm thính có 25 trẻ trai, 22 trẻ gái. Theo BS. Phạm Thế Hiền có nhiều yếu tố dẫn đến tỷ lệ nghe kém ở trẻ, các nghiên cứu cũng cho thấy có sự liên quan chặt chẽ giữa nhiễm khuẩn hô hấp trên, viêm tai xương chũm với khả năng nghe kém ở trẻ. Trong nghiên cứu không có trẻ nào có cha mẹ hoặc người thân trong gia đình có tiền sử bị điếc, nghe kém. Số trẻ nghe kém có mẹ bị bệnh trong quá trình mang thai là rất ít, có 03 trẻ nghe kém có mẹ bị cúm trong quá trình mang thai, 08 trẻ có mẹ bị rubella; 05 trẻ có mẹ bị sởi; 03 trẻ có mẹ bị sốt phát ban. Nhiều tác giả có nghiên cứu khác cũng cho thấy mối liên quan trẻ có mẹ bị nhiễm vi rút chủ yếu là rubelle trong thai kỳ có nguy cơ trẻ bị nghe kém cao gấp gần 8 lần so với những trẻ có mẹ không bị mắc rubella.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những trẻ có cân nặng khi sinh dưới 2500gam có khả năng bị nghe kém cao gấp gần 5 lần so với những trẻ có cân nặng sơ sinh từ 2500gam trở lên. Một kết quả nghiên cứu ở Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho kết quả nguy cơ trẻ sơ sinh có cân nặng khi sinh dưới 2500gam có kết quả đo OAE âm tính cao gấm 9,7 lần so với trẻ có cân nặng khi sinh > 2500gam (p<0,001). Đối với tuổi thai khi sinh, kết quả nghiên cứu cho thấy so với những trẻ sinh đủ tháng (> 37 tuần tuổi), những trẻ sinh thiếu tháng (< 37 tuần tuổi) có nguy cơ bị nghe kém cao hơn 4,9 lần (p<0,05). Nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội cho kết quả trẻ đẻ non dưới 37 tuần có kết quả OAE âm tính cao gấp 9 lần so với trẻ sinh đủ tháng > 37 tuần.
Về cách thức sinh, có 36 trẻ trong 47 trẻ nghe kém sinh thường; 11 trẻ nghe kém phải can thiệp trong khi sinh. Trong 47 trẻ nghe kém, có 05 trẻ phải can thiệp thở oxy sau sinh; có 04 trẻ vị vàng da; một số nghiên cứu khác tại Hà Nội cho thấy 100 trẻ bị vàng da sơ sinh bất thường phải điều trị chiếu đèn, truyền dịch có 52 trẻ có kết quả đo OAE âm tính. Nguy cơ trẻ có nghi ngờ giảm thính lực đối với trẻ vàng da sơ sinh bất thường phải điều trị cao gấp 35 lần so với trẻ không bị vàng da sơ sinh. Tác giả nghiên cứu cũng báo cáo không có trẻ nghe kém có có những vấn đề về biến dạng vành tai, ống tai, nhọt loét ống tái, rút rái tai; có thể do đối tượng nghiên cứu là trẻ trong vòng 7 ngày tuổi sơ sinh nên ít gặp các bệnh lý về tai làm ảnh hưởng đến nghe kém.
BS.Phạm Thế Hiền có khuyến nghị (1) cần thành lập phòng đo thính lực trẻ sơ sinh tại Bệnh viện để tầm soát phát hiện trẻ khiếm thính; (2) đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục cho bà mẹ về các yếu tố nguy cơ liên quan đến khiếm thính; (3) khi phát hiện trẻ có kết quả đo âm ốc tai âm tính OAE (-), các bệnh viện hướng dẫn chuyển tuyến tới cơ sở y tế thính lực chuyên khoa; (4) chi phí thanh toán đo âm ốc tai (OAE) cần được dựa vào danh mục bảo hiểm y tế thanh toán để đảm bảo quyền lợi trẻ sơ sinh.
Hồng Sơn