Tại Việt Nam, báo cáo tình hình dịch tễ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trên toàn quốc cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở những người từ 40 tuổi trở lên là 4,2%, trong đó nam mắc bệnh nhiều hơn nữ, niền Bắc nhiều hơn miền Nam. Các yếu tố tiên lượng tử vong gồm tuổi, mức độ khó thở theo MRC, FEV1 so với giá trị dự đoán, nhiều đợt cấp trong tiền sử, bệnh đồng phát, tiền sử sử dụng Corticosteroid đường uống kéo dài, triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng nguy cơ. Một số nghiên cứu ở Việt Nam nhận xét tỷ lệ bệnh nặng và tử vong trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là 10% đến 18%. Các yếu tố tiên lượng nặng cho bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính gồm rối loạn tri giác, nhịp thở > 30 lần/phút, chỉ số pH PaCO2, PaO2/FiO2, FEV1 so với giá trị dự đoán. Việc quản lý và điều trị dự phòng, tránh các đợt bùng phát cấp tính gây đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính phải nhập viện là điều cần thiết và nên làm nhằm đem lại hiệu quả thiết thực, cải thiện được chức năng hô hấp, nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.
Từ tháng 2/2014 đến tháng 12/2014, nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Thế Hiền cùng cộng sự Khoa Y Dược, trường Đại học Trà Vinh thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang”.

Có 120 đối tượng nghiên cứu tham gia, đối tượng nghiên cứu đã có chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trước đó: dựa vào kết quả đo chức năng hô hấp từ hồ sơ quản lý ngoại trú trong vòng 12 tháng với FEV1/FVC < 70% sau dùng thuốc dãn phế quản. Bệnh nhân chưa được chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính: chẩn đoán sơ bộ theo thang điểm CT-COPD: tiêu chuẩn lâm sàng > 140 điểm hoặc tiêu chuẩn lâm sàng và X quang ngực > 210 điểm. Các bệnh nhân này được tái chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính sau xuất viện 8 tuần bằng cách đo chức năng hô hấp ở phòng khám hô hấp: FEV1/FVC < 0,7 sau dùng thuốc giãn phế quản.
Tiêu chuẩn chẩn đoán đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính: dựa trên ba triệu chứng lâm sàng chính là: khó thở, tăng lượng đàm và đàm có nhầy mủ.
Đối với triệu chứng suy hô hấp: triệu chứng xanh tím trong đợt cấp nhập viện trong nghiên cứu chiếm tỷ lệ 42,50%, tương tự với kết quả trong nghiên cứu của Roche N (2008) là 29%. Tỷ lệ bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nhập viện có triệu chứng này trong nghiên cứu của Phạm Kim Liên (2012) là 18%. Của Trần Xuân Quỳnh (2014) là 37,3%.
Đối với co kéo cơ hô hấp phụ: trong đợt cấp nhập viện, tỷ lệ bệnh nhân co kéo cơ hô hấp phụ trung bình và nặng lần lượt là 70,83% và 29,17% tỷ lệ này cũng tương đương các nghiên cứu khác trong và ngoài nước. Theo Trần Thị Hằng, tỷ lệ bệnh nhân co kéo cơ hô hấp phụ là 76,4%. Tỷ lệ bệnh nhân khó thở mức độ trung bình và nặng theo nghiên cứu của Phạm Kim Liên 47%. Nghiên cứu của Roche N có 37,8% bệnh nhân co kéo cơ hô hấp phụ mức độ nặng. Nồng độ oxy mao mạch bão hòa (SpO2): nghiên cứu của chúng tôi có SpO2 trong đợt cấp nhập viện là 88,47 + 5,16%, kết quả này trong các nghiên cứu khác dao động từ 79,9% đến 93,3%. SpO2 theo Gupta R là 79,998 + 14,238%, theo Stiell IG (2014) là 93,3 + 5,5%, theo Trần Thị Hằng (2011) là 90,3 + 5,0%, theo Trần Xuân Quỳnh (2014) là 90,3 + 5,0%.
Đối với phù chi dưới: kết quả có 43,3% bệnh nhân phù chi dưới lúc mới nhập viện. Tỷ lệ này cao hơn so với các nghiên cứu khác trong và ngoài nước có thể là do nhóm nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ bệnh nhân suy tim phải cao (43,33%). Tỷ lệ phù chi của các nghiên cứu khác là của Trần Thị Hằng 25,5%, Trần Xuân Quỳnh là 23,5%, của Roche N là 23,3%.
Đối với chỉ số khối cơ thể: Mặc dù trong y văn kinh điển mô tả 2 thể lâm sàng khác nhau của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính: type I (pink puffer) với bệnh nhân thường gầy ốm, sụt cân và type II (blue boater) bệnh nhân thường là béo phì hoặc dư cân; phần lớn bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu gầy ốm chiếm tỷ lệ 60,0%, so với chỉ số khối cơ thể lý tưởng ( > 20-25 kg/m2), tỷ lệ thừa cân béo phì là 5% ( > 25 kg/m2), với chỉ số khối cơ thể trung bình của nhóm nghiên cứu là 20,28 kg/m2. Trị số này thấp hơn nhiều so với ngưỡng dư cân hoặc béo phì của thế giới là 25 kg/m2. So sánh với y văn, tác giả nghiên cứu cho rằng, chưa tìm được tài liệu nào báo cáo về tỷ lệ béo phì hay gầy ốm ở người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, tuy vậy có một số tài liệu cho thấy tình trạng sụt cân thất thường gặp ở các bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
Bác sĩ Phạm Thế Hiền có kết luận, tỷ lệ rối loạn tri giác là 32,5%. Dấu hiệu sinh tồn: mạch nhanh 102 lần/phút và nhịp thở nhanh 28 lần/phút. Triệu chứng suy hô hấp: xanh tím chiếm 42,50%, 100% co kéo cơ hô hấp phụ mức độ trung bình – nặng và độ bão hòa oxy trung bình là 88,47%. Có 43,3% bệnh nhân có phù chi dưới. Số lượng bạch cầu trung bình 11050/mm3. Nồng độ CRP trung bình là 78 mg/dl. Khí máu động mạch: pH máu trung bình 7,30, PaCO2 = 54,34 mmHg, PaO2 = 75,28 mmHg, HCO3 = 25,66 mmol/l. Tỷ lệ rối loạn nhịp trên điện tâm đồ là 42,5% và 35% dày nhĩ phải.
Văn Hanh