Có 14,1 triệu người mới mắc ung thư thì đến 1,8 triệu người bị ung thư phổi. Đối với ung thư phổi không phải tế bào nhỏ ở giai đoạn sớm có thể phẫu thuật. Song do có độ ác tính cao, tiến triển nhanh và triệu chứng lâm sàng nghèo nàn nên đa số bị phát hiện ở giai đoạn muộn, hoặc đã có di căn hạch. Điều trị vì vậy gặp rất nhiều khó khăn.

Các phương tiện chẩn đoán hình ảnh nhằm đánh giá các giai đoạn và bản chất của loại ung thư trước khi phẫu thuật như: CT scan, PET, sinh thiết u dưới hướng dẫn của CT hoặc nội soi phế quản dẫn đường là những thành công lớn của y học hiện đại. Hạch N2 dự báo mức độ di căn theo đường bạch huyết đến vùng trung thất cùng bên và hoặc ngay gần carina. Đánh giá bệnh nhân ung thư phổi có hạch N2 có chỉ định phẫu thuật giúp tiên lượng kết quả điều trị cũng như giúp phẫu thuật viên vét hạch ngăn ngừa di căn và giảm tử vong cho bệnh nhân.
Từ tháng 3/2013 đến tháng 3/2014, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Văn Khôi cùng cộng sự bệnh viện Chợ Rẫy thực hiện nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu, báo cáo đề tài “Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật ung thư phổi không tế bào nhỏ có hạch N2”.
Có 82 bệnh nhân tham gia, 50 bệnh nhân nam, 32 bệnh nhân nữ; tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 60; nhỏ nhất 49 và lớn nhất 68 tuổi.
Các bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu được chẩn đoán dựa vào các phương tiện hình ảnh để xác định bệnh lý. X quang phổi thẳng thường quy thực hiện trên 82 bệnh nhân nghiên cứu ghi nhận u trong nhu mô phổi được xác định dựa vào MRI hoặc CT scan. Giá trị chẩn đoán của CT trong nhận diện ung thư phổi là 75-80% với độ nhạy 94% theo nhiều tác giả. Nilendu C Purandare đánh giá hạch trong ung thư phổi trên CT scan hoặc PET CT trước mổ có độ chuyên 94% và độ chính xác là 86% khi xác định nhóm hạch N2 có đường kính > 1,3cm thay vì hạch > 1 cm sẽ gây âm tính giả 21%. CT còn là phương tiện hữu hiệu theo dõi và đánh giá di căn hoặc tái phát sau mổ. Có 79 bệnh nhân xác định nhóm hạch N2 (96%) trước mổ so với MRI (22/24) và PET (16/16) trong nghiên cứu. Tuy nhiên, khác nhau giữa ba phương pháp xác định hạch N2 bằng CT, MRI hay PET không có ý nghĩa về mặt thống kê (T test, P = 0,52, 0,46 và 0,67). MRI và PET là những phương pháp chẩn đoán hình ảnh tương đối đắt tiền và khi đã được chụp CT, đòi hỏi một phương tiện chẩn đoán hình ảnh thứ hai như MRI hoặc PET gây tốn kém thêm cho người bệnh là điều cân nhắc.

Chẩn đoán mô học cần đánh giá trước mổ. Xác định hạch di căn, di căn xa kèm tổng trạng bệnh nhân cần phải khảo sát theo nhiều nghiên cứu. Lấy mô trực tiếp từ tổn thương, phổi tương đối rõ ràng nếu nhìn rõ qua nội soi phế quản, thường ở trung tâm. Những tổn thương phổi nằm ngoại vi hoặc giữa phổi, sinh thiết xuyên ngực bằng kim dưới CT hữu hiệu hơn. BS Khôi cho rằng xác định mô hoàn toàn cho 82 trường hợp bằng cả hai phương pháp sinh thiết qua nội soi phế quản hoặc chọc sinh thiết phổi xuyên ngực sau khi xác định vị trí tổn thương. Antonio 2013 có 123 ca ung thư phổi so sánh sinh thiết dưới CT (87,6%) hiệu quả hơn với nội soi phế quản sinh thiết (72,7%). Tuy nhiên khi sinh thiết qua nội soi dưới hướng dẫn của đầu dò siêu âm trong lòng phế quản EBUS (Endobrochial Ultrasound) độ chính xác của kỹ thuật đến 97,5% trong xác định ung thư phổi. Tại Việt Nam, theo tôi kỹ thuật này trong tương lai sẽ được áp dụng xác chẩn bản chất tổn thương phổi một cách rất hiệu quả.
Bác sĩ Khôi có kết luận, qua nghiên cứu, nếu ung thư phổi không tế bào nhỏ được phát hiện và chẩn đoán, nếu còn chỉ định, phẫu thuật cắt thùy phổi là phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả nay cả khi phát hiện được hạch N2.
Phẫu thuật cắt 1 thùy hay hơn 1 thùy không ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong sau mổ, phẫu thuật mỏ ưu thế nạo vét hạch triệt để hơn so với nội soi khi nạo vét các nhóm hạch N2, đặc biệt nhóm hạch của sổ phế chủ.
Đánh giá lại nhóm hạch N2 sau khi phẫu thuật cho phép hạ bậc giai đoạn, giúp tiện liệu thời gian sống còn cũng như chiến lược điều trị bệnh nhân hiệu quả. Thời gian sống thêm sau 2 năm là 14,3 tuần + 6,5 tuần, gần tương tự như các tác giả nước ngoài.
Ngô Thanh