Sức cản đường thở (Rrs) là thông số trực tiếp đánh giá mức độ lưu thông qua luồng khí thở, xác định tình trạng tắc nghẽn đường thở một cách khách quan. Khác với đánh giá chức năng hô hấp bằng phế dung kế, đo Rrs được thực hiện khi thở bình thường, không yêu cầu sự hợp tác quá nhiều của đối tượng đo nên dễ áp dụng, kể cả các trường hợp khó thở nặng khó tiến hành đo thông khí phổi bằng máy hô hấp kế. Đánh giá Rrs bằng kỹ thuật giao động cưỡng bức (forced oscoillation technique: FOT) là một phương pháp đang được áp dụng phổ biến trên thế giới vì so với một phương pháp đo Rrs khác là bằng máy đo thể tích ký thân thì đơn giản và trang bị rẻ tiền hơn rất nhiều. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng đo Rrs có thể giúp đánh giá tình trạng tắc nghẽn phế quản, giúp phân biệt BPTNMT và xơ hóa phổi, giữa BPTNMT và hen phế quản, ngoài ra còn giúp xác định mức độ nặng ở bệnh nhân BPTNMT.
Tuy nhiên, ở nước ta còn ít nghiên cứu về mối liên quan giữa tăng Rrs với triệu chứng lâm sàng, chỉ tiêu thông khí phổi và khí máu động mạch ở bệnh nhân đợt cấp BPTNMT.
Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Tâm Thuận cùng cộng sự bệnh viện Y học Cổ truyền Trung ương thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang, báo cáo đề tài “Xác định mối liên quan sức cản đường thở với một số chỉ tiêu lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính”.
Đối tượng nghiên cứu bao gồm 55 bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: Tuổi trên 45, bệnh nhân tự nguyện tham gia vào nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân không hợp tác hoặc không tiến hành đo được chức năng hô hấp; bệnh nhân đã dùng thuốc dãn phế quản đường hít trong vòng 6 giờ trước khi đo; Các bệnh nhân suy hô hấp nặng, có chỉ định đặt nội khí quản cấp cứu, rối loạn thần kinh ý thức, rối loạn huyết động; Các bệnh nhân có cơn thở do các nguyên nhân khác như cơn hen phế quản, hen tim, tràn dịch màn phổi, tràn khí màn phổi, viêm phổi…; Bệnh nhân có các bệnh khác phối hợp như: Nhồi máu cơ tim cấp hoặc đau thắt ngực không ổn định < 3 tháng, suy tim nặng.

Nội dung nghiên cứu gồm đánh giá mối liên quan giữa sức cản đường thở với đặc điểm lâm sàng, thông khí và khí động mạch. Đánh giá mối liên quan giữa sức cản đường thở với một số dấu hiệu lâm sàng: Mức độ khó thở theo thang điểm mMRC; Mức độ hút thuốc; Số năm mắc bệnh. Đánh giá mối tương quan r giữa Rrs với các chỉ tiêu chức năng thông khí phổi (FVC, FEV1, FEV1%, FEV1/FVC) và giai đoạn nặng của BPTNMT theo kết quả đo thông phổi. Đánh giá mối tương quan r giữa Rrs với một số chỉ tiêu khí máu động mạch: pH, PaCO2, PaO2, HCO3.
Tiến hành nghiên cứu: Lập các biểu mẫu nghiên cứu để thu thập số liệu; Đánh giá mức độ nặng của khó thở BPTNMT theo thang điểm mMRC (theo GOLD-2014); Đo chức năng hô hấp ngoài bằng máy Most Graph-02 (Chest M.I., Co. Ltd., Tokyo, Nhật Bản) sau 72 giờ điều trị tạm ổn định đợt cấp theo quy trình.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu: Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 7 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015. Địa điểm: Khoa Lao và Bệnh phổi – Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.
Điểm mMRC: đánh giá mức độ nặng của khó thở, theo kết quả nghiên cứu khi điểm mMRC càng cao thì Rrs càng cao. Kết quả này là phù hợp với y văn, mức độ khó thở trong đợt cấp của BPTNMT là một thông số lâm sàng bổ sung cho FEV1, trong phân loại BPTNMT. Nghiên cứu của một số tác giả cho thấy rằng xếp loại BPTNMT dựa trên chức năng thông khí phổi thường là không đủ cần phải tham khảo các dấu hiệu lâm sàng và bệnh sử của bệnh.
Số năm mắc bệnh: Kết quả nghiên cứu cho thấy, số năm mắc bệnh càng nhiều thì Rrs càng tăng. Kết quả này là phù hợp do BPTNMT được đặc trưng bởi sự hạn chế thông khí không có khả năng hồi phục hoàn toàn. Sự hạn chế thông khí thường của phổi do bụi và khí độc hại, diễn biến của bệnh là tiến triển nặng dần.
Mối tương quan giữa sức cản đường thở với thông khí phổi và khí máu động mạch:
Giai đoạn BPTNMT: Theo giai đoạn BPTNMT càng nặng thì Rrs càng cao. Giai đoạn BPTNMT được xếp loại dựa vào sự giảm của chỉ tiêu FEV1, sự giảm FEV1 đặc trưng cho sự hạn chế dòng khí thở ra hay sự tắc nghẽn đường thở, mất đàn hồi trong phổi. Do đó sự giảm FEV1 càng nhiều thì Rrs càng cao. Sự tăng lên của Rrs phản ánh kết quả của nghiên cứu tương tự nghiên cứu của tác giả khác. Như vậy, Rrs càng tăng càng biểu hiện mức độ tắc nghẽn nặng của đường dẫn khí ở bệnh nhân BPTNMT.
Các chỉ tiêu thông khí: Có mối tương quan nghịch biến mức độ vừa giữa Rrs với FVC có r = -0,431; Có mối tương quan nghịch biến mức độ chặt chẽ giữa Rrs với FEV1/FVC có r = -0,763. Kết quả này cũng tương tự các nghiên cứu của Veiga J. và cộng sự cũng cho thấy mối tương quan giữa FEV1, FEV1/FVC với sức cản đường thở. Nghiên cứu của Ohishi cho thấy R5 có mối tương quan chặt chẽ với FEV1 với r = -0,71. Nghiên cứu của Sá P.M và cộng sự cũng cho thấy mối tương quan thấp hơn của nghiên cứu Rrs 4 và FEV1 có r = -0,49; giữa Rrs 4 và FVC có r = - 0,25; giữa Rrs 4 và FEV1/FVC có r = - 0,57; tác giả đã kết luận có mối tương quan giữa Rrs 4 với các thông số chức năng hô hấp ngoại trừ FVC. Như vậy các nghiên cứu đều khẳng định có mối tương quan chặt chẽ giữa Rrs 4 với FVC, FEV1, FEV1/FVC.
Mối tương quan giữa sức cản đường thở với khí máu động mạch. Thay đổi thành phần khí máu động mạch là một mắt xích quan trọng trong sinh lý bệnh của BPTNMT, nó thay đổi theo tiến triển của bệnh. Đo khí máu động mạch là rất cần thiết cho việc đánh giá mức độ nặng của đợt kịch phát, nên đo cho tất cả bệnh nhân bị có FEV1 < 50% thông số lý thuyết hoặc bệnh nhân có dấu hiệu suy hô hấp. Kết quả cho thấy không có mối tương quan giữa Rrs 4 với một số thông số khí máu động mạch: độ pH, PaCO2, PaO2. PaCO2 chỉ tăng ở giai đoạn nặng của bệnh do đó có mối tương quan giữa PaCO2 và pH là kém chặt chẽ có lẻ là do hầu hết bệnh nhân được thở oxy kính ngay từ khi vào cấp cứu ban đầu cho đến khi làm xét nghiệm khí máu.
Tình trạng nhiễm toan (pH<7,36 mmHg) phụ thuộc nhiều yếu tố, thường thì giai đoạn đầu khi PaCO2 có sự giảm pH nhưng sau đó có đáp ứng bù trừ qua thận làm cho pH về bình thường và như vậy pH rất biến đổi nên không có mối tương quan chặt với Rrs.
Bác sĩ Thuận có kết luận, qua nghiên cứu mối liên quan sức cản đường thở với đặc điểm lâm sàng, thông khí phổi và khí máu động mạch cảu 55 bệnh nhân đợt cấp BPTNMT điều trị nội trú tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, kết quả gồm:
- Sức cản đường thở tăng theo mức độ hút thuốc, mức độ khó thở tính theo điểm mMRC, số năm mắc bệnh, giai đoạn BPTNMT có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
- Có mối tương quan nghịch mức độ chặt chẽ giữa sức cản đường thở ở tần số 5 Hz với Gaensler có r= - 0,763, mức độ khá chặt với FEV1 có r = - 0,642 và mức độ vừa với FVC có r = - 0,431 (p<0,001).
Không có mối tương quan (r = - 0,103 đến 0,3 với p < 0,05) giữa sức cản đường thở ở tần số 5 Hz với một số chỉ tiêu khí máu động mạch (pH, PaCO2, PaO2).
Anh Huy