Hồi sức dịch là một trong những điều trị quan trọng trong sốc nhiễm khuẩn.
Theo River, bù đủ số lượng tuần hoàn trong 6 giờ đầu giúp cải thiện tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, I Michard khẳng định chỉ khoảng 50% bệnh nhân tụt huyết áp đáp ứng với truyền dịch. Tình trạng quá thừa hoặc thiếu thể tích dịch đều gây tăng tỷ lệ tàn phế, tử vong. Do đó, hồi sức dịch là một thách thức lớn.

Năm 1959, Hughes và Magovern lần đầu tiên đặt ống thông tĩnh mạch trung tâm để theo dõi CVP. Từ đó, CVP trở thành công cụ chuẩn để theo dõi, hướng dẫn truyền dịch. Tĩnh mạch chủ dưới là tĩnh mạch lớn nhất của cơ thể. IVC có khả năng co giãn rất lớn và ít bị ảnh hưởng bởi đáp ứng bù trừ của cơ thể. Do đó, đường kính IVC có thể phản ánh được tình trạng thể tích dịch trong lòng mạch. Ở bệnh nhân thở máy, kích thước IVC biến thiên theo chu kỳ hô hấp. Đường kính lớn nhất (Dmax) của IVC là cuối thì thở vào, và đường kính nhỏ nhất (Dmin) là cuối thì thở ra. Mục tiêu của nghiên cứu đánh giá mối tương quan đường kính IVC với CVP và vai trò siêu âm kích thước IVC trong đáp ứng truyền dịch.
Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Văn Chi cùng cộng sự bệnh viện Bạch Mai và Đại học Y Hà Nội thực hiện nghiên cứu mô tả tiến cứu báo cáo đề tài “Nghiên cứu vai trò siêu âm tĩnh mạch chủ dưới trong đánh giá đáp ứng truyền dịch ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn thở máy”.
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: 35 bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn theo SSC 2012 và thở máy với Vt = 8ml/kg IBW, đồng ý tham gia nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ: rung nhĩ, vận mạch liều cao, đang lọc máu, tăng áp lực tâm nhĩ phải (hở ba lá nặng, tâm phế mạn), viêm phổi nặng ARDS.
Trong nghiên cứu, BS Chi báo cáo chỉ số giãn tĩnh mạch chủ dưới (dIVC) giảm đáng kể sau truyền dịch, và giảm nhiều hơn ở nhóm đáp ứng. Điều này có thể do máy thở làm giảm lượng máu tĩnh mạch về tim ở thì thở vào lớn hơn hoặc IVC giãn lớn hơn ở nhóm đáp ứng. Ở thì thở vào, máy thở làm giảm máu tĩnh mạch trở về tim là do: áp lực nhĩ phải tăng lên trong thì thở vào do áp lực trong lồng ngực tăng, hậu gánh thất phải tăng do các mao mạch phế nang kém tưới máu xẹp lại, kết quả là máu tĩnh mạch trở về tâm nhĩ phải giảm, ứ lại ở tĩnh mạch chủ, làm kích thước IVC tăng lên. Cũng có thể do, ở nhóm đáp ứng truyền dịch có tình trạng thiếu thể tích tuần hoàn, do đó, tĩnh mạch chủ dưới có độ đàn hồi cao hơn so với nhóm không đáp ứng. Cuối cùng, do chỉ số giãn dIVC có nghĩa là khả năng nhận thêm dịch của cơ thể.
Vì siêu âm IVC đánh giá đáp ứng truyền dịch dựa theo nguyên lý biến thiên theo chu kỳ hô hấp, nên siêu âm IVC có một số hạn chế. Thứ nhất, bệnh nhân cần được thở hoàn toàn theo máy và không còn nhịp thở tự nhiên. Vì mọi sự cố gắng thở tự nhiên làm cho áp lực trong lồng ngực không đều cả về tần số và biên độ, do đó biến thiên thể tích nhát bóp sẽ không còn phụ thuốc vào tiền gánh. Thứ hai, nếu áp lực trong lồng ngực không dao động đủ lớn sẽ không thể làm kích thước tĩnh mạch chủ dưới biến thiên tương đối, mặc dầu bệnh nhân có tình trạng thiếu dịch, hoặc nếu độ đàn hồi của phổi quá thấp thì áp lực trong phế nang sẽ giảm khi truyền đến các cấu trúc khác trong lồng ngực, trong đó có tâm nhĩ phải. Thở máy với thể tích khi lưu thông tối thiểu 8ml/kg IBW được cho là điều kiện cần thiết. Thứ ba, áp lực ổ bụng tăng cao là một hạn chế với siêu âm IVC. Thứ tư, không thể siêu âm tĩnh mạch chủ giúp đánh giá đáp ứng truyền dịch nếu bệnh nhân đã phẫu thuật mở ngực. Một số điểm hạn chế này cũng là điều kiện cần khi sử dụng siêu âm IVC đánh giá đáp ứng truyền dịch. Tuy nhiên, siêu âm có những ưu điểm rõ ràng mà không thể phủ nhận: thực hiện nhanh, đơn giản, không xâm lấn, rẻ tiền, có thể thực hiện ngay tức khắc tại giường, đặc biệt trong các trường hợp mà cần thời gian trì hoãn đặt các thiết bị thăm dò huyết động xâm lấn khác.
Tác giả nghiên cứu có kết luận siêu âm kích thước IVC có vai trò đánh giá đáp ứng truyền dịch trong sốc nhiễm khuẩn thở máy. Nếu Dmin > 15.5 mm dự đoán CVP > 12 mmHg với độ nhạy 85.7% và độ đặc hiệu 89.3%.
Tuy nhiên, cần có nghiên cứu lớn hơn, mù đôi, ngẫu nhiên khẳng định rõ thêm vai trò siêu âm tĩnh mạch chủ dưới trong đánh giá đáp ứng truyền dịch ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn thở máy.
Văn Hanh