[Đăng ngày: 07/08/2017]
Trầm cảm, lo âu là hai bệnh lý tâm thần phổ biến trên toàn cầu; hai bệnh này thường gặp trên lâm sàng tâm thần và một số bệnh khác trong đó có bệnh tim mạch.

Theo các chuyên gia tim mạch, tại Việt Nam những năm gần đây bệnh tim thiếu máy cục bộ mạn tính đang có xu hướng gia tăng nhanh và đứng hàng thứ 5 trong các bệnh tim mạch. Bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tính và trầm cảm, lo âu là trạng thái đồng bệnh lý phổ biến.

Từ tháng 3/2016 đến tháng 10/2016, tác giả nghiên cứu Phạm Thị Thu cùng các cộng sự Bệnh viện Quân Y 103 thực hiện báo cáo đề tài nghiên cứu “Mối liên quan giữa trầm cảm, lo âu và một số đặc điểm của bệnh nhân bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tính”. Đối tượng nghiên cứu là 125 bệnh nhân được chẩn đoán bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tính được điều trị tại khoa nội tim mạch Bệnh viện Quân Y 103. Chẩn đoán bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tính dựa vào kết quả chụp mạch vành qua da có hẹp ít nhất 50% một nhánh động mạch vành chính hoặc tiền sử đã đặt stent động mạch vành. Đối với các bệnh nhân có hội chứng vành cấp, bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu, bệnh nhân nặng không thực hiện được phỏng vấn đều không mời tham gia nghiên cứu.

Theo báo cáo của tác giả nghiên cứu, có 73/125 đối tượng nghiên cứu có trầm cảm (58,4%), lo âu có 36/125 (28,8%); vừa có trầm cảm và lo âu có 32/125 đối tượng nghiên cứu chiếm tỷ lệ 25,6%. Đối tượng nghiên cứu không có trầm cảm, lo âu là 48/125 (38,4%). Tác giả nghiên cứu phân tích, tất cả các mức độ đau ngực theo phân độ của Hiệp hội Tim mạch Canada (CCS) đều có thể gặp rối loạn trầm cảm, lo âu. Các bệnh nhân có độ đau ngực cao hơn, có tỷ lệ trầm cảm nhiều hơn rõ rệt đối với các bệnh nhân có độ đau ngực thấp hơn (p<0,05). Trong nghiên cứu có 88,2% đối tượng nghiên cứu có phân độ đau ngực độ 4 có trầm cảm; 38,3% đối tượng nghiên cứu đau ngực độ 1 có trầm cảm. Tác giả nghiên cứu cũng ghi nhận những bệnh nhân không đau ngực cũng có tỷ lệ trầm cảm cao, vì các đối tượng nghiên cứu này thường nhập viện do các triệu chứng của trầm cảm, lo âu như mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt. Khác với trầm cảm, các đối tượng nghiên cứu có đau ngực độ 2 và độ 3 có tỷ lệ rối loạn lo âu cao hơn.

Tác giả Phạm Thị Thu báo cáo các đối tượng nghiên cứu đã từng đặt stent có tỷ lệ trầm cảm cao hơn các đối tượng chưa được đặt stent, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,1). Tác giả nghiên cứu cũng ghi nhận tỷ lệ trầm cảm ở những đối tượng nghiên cứu có chỉ số CRPhs lớn hơn 3 cao hơn rõ rệt so với nhóm đối tượng nghiên cứu có CRPhs nhỏ hơn 1 (75% và 42,1%, p=0,04); đối với lo âu, nghiên cứu không tìm thấy mối liên quan này.

Một vấn đề gần đây được nhiều người quan tâm đó là trầm cảm sau sinh, theo các chuyên gia sau khi sinh, nồng độ hocmon trong cơ thể người phụ nữ nhanh chóng giảm xuống, sự thay đổi hoá học trong não bộ người mẹ gây ra sự thay đổi tâm trạng. Có thể do người mẹ không được nghỉ ngơi cần thiết, thiếu ngủ liên tục làm kiệt sức và góp phần mắc chứng trầm cảm sau sinh.

Các triệu chứng hay gặp là người mẹ cảm thấy buồn, vô vọng, trống rỗng hoặc quá tải. Khóc thường xuyên hơn bình thường hoặc không có lý do rõ ràng; lo lắng hoặc cảm thấy sợ hãi; cáu kỉnh, bồn chồn; ngủ quá nhiều hoặc không thể ngủ được; khó tập trung, ghi nhớ chi tiết và đưa ra các quyết định. Có những cơn giận dữ mất kiểm soát, không quan tâm đến các sở thích trước đây của bản thân; đau nhức cơ thể, nhức đầu thường xuyên, đau dạ dày và đau cơ; ăn quá ít hoặc quá nhiều; xa lánh hoặc lãng tráng bạn bè, gia đình; khó khăn trong việc gắn kết tình cảm với con mình; không tin vào khả năng chăm sóc con mình. Theo thống kê thế giới, tỷ lệ trầm cảm sau sinh khoảng 13%; ở nước nghèo tỷ lệ này có thể lên đến 19%. Một số trường hợp nghiêm trọng, người mẹ đau khổ đến nỗi suy nghĩ và có hành vi tự tử hoặc giết hại con mình. Các chuyên gia chuyên khoa tâm thần cho rằng cần phải điều trị sớm đối với trầm cảm bằng các biện pháp như trị liệu tham vấn tâm lý hoặc điều trị bằng thuốc; đối với phương pháp trị liệu bằng tham vấn tâm lý, liệu pháp hành vi nhận thức giúp cho người bệnh nhận ra và thay đổi suy nghĩ tiêu cực và hành vi của mình; liệu pháp tương tác sẽ giúp mọi người xung quanh hiểu và hỗ trợ điều trị với người bị bệnh. Ngoài ra người bệnh sẽ áp dụng thêm tập thể dục hàng ngày, thư giãn, tận hưởng các sở thích, tiếp xúc nhiều hơn và mở lòng với những người thật sự quan tâm đến mình.

Điều trị trầm cảm sau sinh rất quan trọng đối với em bé, việc cho bú sữa mẹ rất tốt cho sức khoẻ của bé và tốt cho mối quan hệ của bé với mẹ. Do vậy các chuyên gia cho rằng người mẹ vừa điều trị trầm cảm và vẫn nuôi con bằng sữa mẹ bằng cách lựa chọn biện pháp không dùng thuốc. Nếu phải dùng thuốc, chọn loại ít ảnh hưởng nhất đến sữa người mẹ và em bé. Nếu không điều trị trầm cảm sau sinh sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ của người mẹ, ảnh hưởng khả năng kết nối và chăm sóc con của người phụ nữ và làm gây ra các vấn đề liên quan đến ngủ, ăn uống và hành vi khi bé phát triển.

Tường Huân
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 454

Số lượt truy cập: 9358143

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang