
Cắt túi mật nội soi là phương pháp điều trị ngoại khoa đối với sỏi túi mật. Phương pháp mổ nội soi, ít xâm lấn hơn mổ hở, nhưng tỷ lệ buồn nôn và nôn sau mổ cao hơn mổ hở khoảng 40-70%.
Khi bệnh nhân buồn nôn, nôn sau mổ sẽ làm bệnh nhân ra mồ hôi, nhịp tim nhanh, đau bụng, kéo dài thời gian nằm ở phòng hồi tỉnh cũng như thời gian nằm viện, tăng nguy cơ viêm phổi do hít phải chất nôn. Nếu nôn, buồn nôn mức độ nặng có thể dẫn đến mất nước, rối loạn điện giải, bục vết mổ, chảy máu kéo dài ở vết thương, máu tụ và vỡ thực quản. Do vậy việc dự phòng, điều trị buồn nôn, nôn sau mổ rất cần thiết. Sau gây mê và phẫu thuật.
Dexamethasone là thuốc nhóm corticoide có tác dụng kháng viêm mạnh và chống dị ứng. Thuốc còn có tác dụng đối kháng với thụ thể dopaminergic tại vùng nhận cảm hóa học. Dexamethasone chưa được sử dụng rộng rãi trong dự phòng nôn, buồn nôn sau mổ.
Từ tháng 2/2015 đến tháng 10/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Bùi Ngọc Đức cùng cộng sự bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắc lắc đã tiến hành nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả dự phòng buồn nôn và nôn của Dexamethasone ở bệnh nhân mổ cắt túi mật nội soi”. Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân có chỉ định cắt túi mật nội soi, tuổi từ 18-65; BMI<30, không sử dụng thuốc chống nôn trước mổ và đồng ý tham gia nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ đối với bệnh nhân có chống chỉ định sử dụng Dexamethasone, phụ nữ cho con bú hoặc có thai; có triệu chứng nôn và buồn nôn trước mổ, dùng thuốc chống nôn trước mổ, đang sử dụng steroid hoặc đang điều trị ung thư bằng hóa chất.
BS Đức cho biết, đối tượng nghiên cứu được phân nhóm ngẫu nhiên. Nhóm D có 35 bệnh nhân, tiêm tĩnh mạch 4mg dexamethasone khi khởi mê, nhóm C có 39 bệnh nhân không sử dụng thuốc dự phòng nôn.
Kết quả nghiên cứu, BS Đức phân tích đặc điểm chung của 2 nhóm là tương đồng nhau. Tỷ lệ buồn nôn, nôn sau mổ nhóm D là 22,9%; nhóm C là 48,7% trong giai đoạn 0-6 giờ sau mổ. Trong giai đoạn 0-24 giờ sau mổ, nhóm D có tỷ lệ 31,4% thấp hơn so với nhóm C có tỷ lệ 66,7% có biểu hiện buồn nôn và nôn. Hiệu quả dự phòng buồn nôn, nôn sau mổ cắt túi mật nội soi của dexamethasone có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
BS Đức cho biết, một số nghiên cứu trên thế giới, như nghiên cứu của Gupta và cộng sự năm 2006 trên 200 bệnh nhân cắt túi mật nôi soi, chia 2 nhóm nhóm 1 được tiêm dexamethasone tĩnh mạch, nhóm 2 tiêm 4mg ondansetron sử dụng trước mổ 90 phút – cho kết quả với việc sử dụng dexamethasone liều thấp 5mg tĩnh mạch trước mổ có hiệu quả tương đương với ondansetron 4mg tĩnh mạch.
Về tác dụng không mong muốn, BS Đức cho biết thường gặp là đau đầu, nhóm C có tỷ lệ 7,7%; nhóm D 8,6%. Ngứa ở tầng sinh môn gặp ở nhóm có sử dụng dexamethasone là 8,6%, nhóm chứng là 15,4%. BS Đức cho rằng tác dụng phụ của dexamethasone khi sử dụng với liều dự phòng buồn nôn – nôn sau mổ là rất hiếm, các nghiên cứu được tiến hành chọn đối tượng nghiên cứu, loại trừ những bệnh nhân có tiền sử về bệnh dạ dày, ruột, bệnh đái tháo đường, điều trị corticoide ức chế miễn dịch, bệnh lao và hội chứng Cushing. BS Đức lưu ý liều và tốc độ tiêm thuốc cũng ảnh hưởng đến cường độ đau, đối với cảm giác ngứa, cảm giác đau kéo dài khoảng 25-30 giây. Cơ chế này không rõ, nguyên nhân có thể do thành phần phosphate ester của steroid gây nên; tác dụng này có biểu hiện rõ khi sử dụng ở bệnh nhân đang tỉnh.
BS Bùi Ngọc Đức có kết luận, sử dụng Dexamethasone 4mg có hiệu quả dự phòng buồn nôn, nôn sau mổ trong phẫu thuật cắt túi mật nội soi.
Chúng ta biết rằng buồn nôn và nôn sau phẫu thuật là triệu chứng bệnh nhân thường than phiền sau khi mổ. Buồn nôn, nôn sau phẫu thuật được định nghĩa là xảy ra trong 24 giờ sau phẫu thuật. Mặc dù không trầm trọng về bản chất, nhưng buồn nôn, nôn sau phẫu thuật gây ra các biến chứng, làm kéo dài thời gian nằm ở phòng hồi tỉnh thời gian nằm viện kéo dài, tăng giá thành điều trị. Vì vậy dự phòng và điều trị buồn nôn, nôn sau phẫu thuật là vấn đề chuyên ngành hồi sức gây mê rất quan tâm.
Nghi Anh