
Tại Hội nghị khoa học thường niên Tiết niệu- Thận học lần thứ IX được tổ chức tại TP Nha Trang tháng 8/2015, đề tài báo cáo “Đánh giá chức năng bàng quang trong điều trị chấn thương cột sống liệt tủy cấp tính có ứng dụng tế bào gốc trung mô nguồn gốc mô mỡ tự thân” được rất nhiều đại biểu chú ý.
Đề tài nghiên cứu do TS. Đỗ Đào Vũ, Nguyễn Đình Hòa, Nguyễn Văn Thạch- Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Việt Đức- thực hiện từ tháng 10/2012 đến tháng 10/2014. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân tuổi từ 19-40, chẩn đoán lâm sàng tổn thương tủy sống theo Hiệp hội tổn thương tủy sống của Hoa Kỳ (ASIA ở cấp độ A, liệt hoàn toàn) khoảng thời gian tổn thương dưới 14 ngày.
Kết quả nghiên cứu có 40 bệnh nhân được chọn, trong đó bệnh nhân nam giới 34 người chiếm tỷ lệ 85%. Bệnh nhân trẻ nhất 17 tuổi, già nhất 59 tuổi, tỷ lệ tuổi 31-40 chiếm cao nhất với 37,5%. Bệnh nhân được chia làm hai nhóm ngẫu nhiên theo tỷ lệ 1:1, được làm xét nghiệm trước khi cấy ghép. Bệnh nhân được phẩu thuật theo phương pháp kinh điển cố định cột sống giải ép, ghép xương và ứng dụng ghép tế bào gốc trực tiếp vào vùng tổn thương theo các quy trình chuẩn với số lượng tế bào 4 x 106 MSCs tiêm ở 4 vị trí trên tổn thương, giữa tổn thương, dưới tổn thương và khoang dưới nhện dưới màng cứng.
Theo các tác giả nghiên cứu, nghiên cứu này sử dụng ghép tự thân đã tránh được vấn đề liên quan đến thải ghép và đặc biệt nguồn tế bào gốc từ mô mỡ có nhiều thuận lợi hơn từ các nguồn khác. Thuận lợi là dễ lấy với kỹ thuật gây tê tại chỗ, dễ nuôi cấy để đạt thời gian kịp thời cấy vào vùng tổn thương. Liệu pháp tế bào không tạo ra tế bào ung thư; y học đã chứng minh tế bào gốc nguồn từ mô mỡ tạo ra rất nhiều tế bào mô khác nhau, trong đó có tế bào thần kinh hoặc tế bào thần kinh đệm.
Đối với kết quả so sánh niệu động học thông qua số cơn co bóp không tự chủ của hai nhóm bệnh nhân tại thời điểm 6 tháng, nhóm điều trị là 0,4 thấp hơn nhiều so với nhóm chứng là 2,3(p<0,05).
Đối với đánh giá mức độ cải thiện chức năng bàng quang thông qua các chỉ số áp lực bàng quang tối đa, sức chứa bàng quang tối đa và độ giản nở bàng quang trong nhóm điều trị tại thời điểm 3 tháng, 6 tháng đều có sự cải thiện nhưng ít mặc dù số cơn co bóp không tự chủ ở giai đoạn 3 tháng, 6 tháng có sự cải thiện tốt. Tác giả nghiên cứu đã cho rằng có sự liên quan mật thiết của việc tập luyện duy trì thể tích nước tiểu trong bàng quang, làm sạch nước tiểu bàng quang, chống rỉ tiểu…Để có được kết quả tốt, bệnh nhân cần được chăm sóc bàng quang tốt và tham gia tập luyện phục hồi chức năng.
Nghiên cứu cũng cho thấy, kết quả chỉ số áp lực bàng quang tại thời điểm 6 tháng nhóm điều trị < 40, lớn hơn so với nhóm chứng. Sự khác biệt của hai nhóm không có ý nghĩa thống kê. Tác giả khuyến cáo cần quan tâm chăm sóc quản lý bệnh nhân sau cấy ghép để cải thiện được chỉ số áp lực bàng quang. Tại Việt Nam gần đây có nhiều nghiên cứu ứng dụng tế bào gốc trong điều trị, nhưng trong ngành chấn thương chỉnh hình, điều trị chấn thương cột sống liệt tủy còn hạn chế. Nhóm tác giả nghiên cứu đã kết luận ứng dụng ghép tế bào gốc mô mỡ tự thân trong điều trị chấn thương cột sống liệt tủy hoàn toàn là phương pháp ứng dụng mới; đặc biệt phương pháp này cải thiện chức năng bàng quang, đây là vấn đề còn nhiều khó khăn trong điều trị và chăm sóc người bệnh. Tác giả cũng lưu ý cần đánh giá tính hiệu quả, an toàn của phương pháp, tuy nhiên đây là phương pháp mang lại nhiều hy vọng mới cho người bệnh và gia đình của họ.
Chấn thương tủy sống gây nên những tổn thương thần kinh gồm liệt vận động, liệt cảm giác, rối loạn cơ tròn là những hậu quả rất phổ biến và nặng nề thường gặp trên lâm sàng. Liệt tủy hoàn toàn thường xảy ra khi tổn thương trên nón tủy, biểu hiện mất hoàn toàn vận động và cảm giác dưới mức tủy tổn thương, bao gồm cả cảm giác quanh hậu môn. Tại Việt Nam, chấn thương tủy sống gặp chủ yếu do tai nạn lao động và tai nạn giao thông, bệnh nhân ngoài mất sức lao động sau chấn thương còn phụ thuộc vào người chăm sóc, điều trị thêm các biến chứng như loét tỳ đè, viêm tắc tĩnh mạch chi, rối loạn chức năng bàng quang gây nhiễm trùng tiết niệu, trào ngược bàng quang niệu quản dẫn đến tử vong trong bệnh cảnh suy thận mạn tính.
Trần Hưng