
Thành phố Cam Ranh là một trong năm địa phương được triển khai Đề án Kiểm soát dân số các vùng biển, đảo và ven biển giai đoạn 2009-2020.
Cam Ranh có 15 xã, phường, trong đó 11 xã phường thuộc vùng ven biển đảo. Theo số liệu thống kê năm 2013 của Chi cục thống kê Cam Ranh có 25.116 lượt phụ nữ khám phụ khoa trên toàn thành phố, trong đó điều trị phụ khoa là 10.256 người, số liệu này cho thấy tỷ lệ viêm nhiễm phụ khoa ở phụ nữ tương đối cao. Bệnh phụ khoa là bệnh thường gặp ở phụ nữ, ở bất kỳ độ tuổi nào, tuy nhiên nhiều nhất là ở phụ nữ tuổi sinh đẻ, đã có quan hệ tình dục. Các nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng nhiễm khuẩn từ các loại vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng hoặc do sự phối hợp của các tác nhân này. Một trong những nguyên nhân thường gặp là do các chủng vi nấm Candida spp. Bệnh nấm Candida đường sinh dục là một bệnh nhiễm trùng đường âm đạo nội sinh do chủng nấm Candida mà chủ yếu là Candida Albicans gây nên. Viêm nhiễm do nấm có những triệu chứng điển hình như khí hư nhiều, gây ngứa, đau khi giao hợp, âm hộ âm đạo tấy đỏ.
Từ tháng 5-7/2015, tác giả Nguyễn Cà Viên Thư tiến hành nghiên cứu đề tài “Tầm soát nhiễm vi nấm Candida spp ở phụ nữ 18-49 tuổi đến khám phụ khoa trong chiến dịch vùng ven biển, đảo tại thành phố Cam Ranh năm 2015”.
Cở mẫu nghiên cứu là tất cả phụ nữ 18-49 tuổi đến khám phụ khoa trong đợt 1 chiến dịch sức khỏe vùng ven biển năm 2015 tại thành phố Cam Ranh được chẩn đoán một hoặc nhiều hình thái viêm đường sinh dục như viêm âm đạo – cổ tử cung; viêm âm hộ - cổ tử cung; viêm cổ tử cung; viêm âm hộ; viêm âm đạo.
Theo báo cáo của tác giả nghiên cứu, có 123 đối tượng nghiên cứu tham gia, độ tuổi ở nhóm 20-49 tuổi, tỷ lệ nhiễm nấm cao nhất ở lứa tuổi 40-49 với 21,2%, tiếp theo là 30-39 với tỷ lệ 19% và tỷ lệ 17,2% ở lứa tuổi 30-39, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
Xét nghiệm tìm vi nấm candida có 16 người nhiễm nấm, chiếm tỷ lệ 13%. Phụ nữ ở nhóm lớn tuổi có tỷ lệ nhiễm nấm cao hơn so với tỷ lệ nhiễm nấm ở nhóm phụ nữ nhỏ tuổi hơn. Chúng ta biết rằng trong điều kiện bình thường âm đạo có một lớp màng bảo vệ axit tự nhiên giúp ngăn ngừa viêm nhiễm. Lớp bảo vệ này được tạo ra khi vi khuẩn thường trú có ích là Lactobacilli phá vỡ cấu trúc glycogen có trong dịch nhầy tiết ra ở âm đạo. Phụ nữ trong độ tuổi từ 40-49 thường là ở giai đoạn tiền mãn kinh và mãn kinh, có nhiều thay đổi về nội tiết tố, giảm tiết estrogen, giảm tiết dịch nhờn âm đạo. Vì vậy, niêm mạc vùng âm đạo khô, mất tính đàn hồi, dễ bị trầy xước viêm nhiễm. Một yếu tố khác là phụ nữ càng lớn tuổi thì khả năng miễn dịch càng giảm, dễ mắc các bệnh lí như tiểu đường, béo phì là những nguyên nhân làm cho vi nấm candida phát triển nhiều trên nhóm đối tượng này.
Phụ nữ sinh từ 3 con trở lên có tỉ lệ phát hiện nhiễm nấm Candida (22,6%) cao hơn so với phụ nữ có 2 con (11,3%) và 1 con (4,8%). Tuy nhiên không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ nhiễm nấm Candida và số lần có con với p>0,05.
Những phụ nữ sống trong thành phố, gần các Trung tâm y tế thường có điều kiện hơn về mặt kinh tế, thông tin về sức khỏe cũng nhiều hơn, tỉ lệ viêm sinh dục do nấm thấp hơn (9,1%) so với phụ nữ sống ở vùng nông thôn (16,2%). Trong nghiên cứu này tác giả nghiên cứu nhận thấy, những phụ nữ sinh nhiều con thường sống ở vùng nông thôn, phần nhiều là làm công việc thường xuyên phải ngâm mình dưới nước hoặc là làm nông. Với tính chất công việc, cùng trình độ nhận thức, điều kiện vệ sinh còn thấp, các chị em chưa biết cách giữ gìn vệ sinh vùng kín đúng cách làm vùng kín thường xuyên ẩm ướt hoặc thụt rửa quá sâu gây mất cân bằng môi trường âm đạo, làm cho cơ chế bảo vệ bình thường của cơ thể bị suy giảm tạo điều kiện cho vi nấm phát triển thành nguyên nhân gây bệnh viêm sinh dục.
Kết quả nghiên cứu phát hiện có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) giữa tỷ lệ nhiễm nấm Candida spp và các chẩn đoán ban đầu. Các ca bệnh phát hiện nhiễm nấm âm đạo phần nhiều được chẩn đoán viêm âm đạo (23,8%) hoặc có sự kết hợp với hình thái viêm âm đạo như viêm âm đạo – cổ tử cung (20%), viêm âm hộ - âm đạo (11,1%).
Tính chất, màu sắc khí hư có liên quan mật thiết tới tỷ lệ phát hiện nấm âm đạo. Khí hư trắng, bột có tỷ lệ phát hiện nấm cao nhất với 66,7%, phù hợp với đặc điểm chẩn đoán nấm âm đạo.
Tác giả Nguyễn Cù Viên Thư đã đưa ra một số kiến nghị như lãnh đạo địa phương cần tiếp tục duy trì, tăng cường kinh phí khám sức khỏe sinh sản cho các chiến dịch vùng ven để mở rộng các dịch vụ ưu đãi đến nhiều chị em ở các vùng thực hiện chiến dịch.
Tăng cường phối hợp với các ban ngành trên địa bàn thành phố tích cực trong công tác truyền thông để nâng cao ý thức của chị em, nhất là các chị em ở vùng nông thôn về lợi ích của việc khám phụ khoa định kỳ và điều trị các bệnh phụ khoa kịp thời.
Cần thêm những nghiên cứu sâu hơn, so sánh đối chứng giữa các nguyên nhân gây ra bệnh phụ khoa, từ đó có thêm cơ sở dữ liệu phục vụ công tác truyền thông và thực hiện các đợt khám chiến dịch sức khỏe sinh sản tốt hơn.
Nghi Anh