
Tại Hội nghị khoa học Tim mạch miền Trung Tây Nguyên lần thứ 8 được tổ chức vào tháng 12/2015, tác giả Phan Long Nhơn – Đại học Y dược Huế báo cáo đề tài “Nghiên cứu những cải thiện có lợi của yếu tố nguy cơ tim mạch và phân tầng nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp sau điều trị”.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 5/2012 đến tháng 5/2014, có 400 đối tượng nghiên cứu tuổi từ 40 trở lên tham gia, được điều trị và quản lý tại Đơn vị tăng huyết áp Bệnh viện đa khoa khu vực Bồng Sơn. Tiêu chuẩn xác định tăng huyết áp dựa vào khuyến cáo của Hội Tim mạch quốc gia Việt Nam và chương trình tăng huyết áp quốc gia năm 2010 loại trừ những bệnh nhân tăng huyết áp thứ phát, tăng huyết áp cấp cứu, tăng huyết áp khẩn cấp, tăng huyết áp khi đang có thai, tăng huyết áp kháng trị, bệnh nhân tăng huyết áp nhưng đang suy gan nặng, suy thận nặng, suy tim nặng, nhồi máu cơ tim cấp, tai biến mạch máu não giai đoạn cấp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong số 400 đối tượng nghiên cứu, có 150 người là nam giới, 250 người nữ giới (62,5%); tuổi trung bình là 66,9; tuổi thấp nhất 40, cao nhất 95 tuổi. Về đặc điểm huyết áp, tăng huyết áp độ 1 chiếm 47,7%; tăng huyết áp độ 2 chiếm 31,5%; tăng huyết áp độ 3 chiếm 20,7%.
Đối với kết quả yếu tố nguy cơ tim mạch trước điều trị cho thấy yếu tố nguy cơ về huyết áp chiếm hơn ¼; yếu tố nguy cơ về tuổi chiếm 33%; yếu tố nguy cơ về rối loạn lipit máu chiếm 28%. Như vậy kết quả tổng hợp các yếu tố nguy cơ tim mạch yếu tố nguy cơ về huyết áp chiếm hơn ¼ đối tượng nghiên cứu, đây là nhóm yếu tố nguy cơ chiếm tỷ lệ cao nhất trong 8 nhóm yếu tố nguy cơ tim mạch. Các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, béo phì, ít hoạt động thể lực, tiền sử gia đình bệnh tim mạch sớm tỷ lệ không quá 7,5% đối tượng nghiên cứu. Yếu tố nguy cơ về tuổi chiếm tỷ lệ 33,2% (13% đối với nam và 20,2% đối với nữ). Đây là yếu tố nguy cơ không thay đổi được, tuổi càng cao gánh nặng bệnh lý tim mạch càng nhiều, vì vậy tác giả khuyến cáo cần tập trung thay đổi các yếu tố nguy cơ như rối loạn lipit máu, béo phì, ít vận động hoạt động thể lực, hút thuốc lá, đái tháo đường, tăng huyết áp.
Đối với kết quả số yếu tố nguy cơ tim mạch trên tăng huyết áp, có gần 35% đối tượng nghiên cứu có 1 yếu tố nguy cơ; 35% đối tượng nghiên cứu có 2 yếu tố nguy cơ; 22,7% đối tượng nghiên cứu có 3 yếu tố nguy cơ; 5% đối tượng nghiên cứu có 4 yếu tố nguy cơ; 2,5% đối tượng nghiên cứu có 5 yếu tố nguy cơ. Nếu gộp những bệnh nhân tăng huyết áp có 3 yếu tố nguy cơ trở lên chiếm hơn 30%; gần 1/3 tổng số bệnh nhân tăng huyết áp, tác giả nghiên cứu lưu ý bác sĩ cần phải điều trị tích cực và tư vấn cải thiện lối sống cho người bệnh để ngăn ngừa và loại trừ những yếu tố nguy cơ tim mạch có thể thay đổi được.
Đối với phân tầng nguy cơ tim mạch trước điều trị, kết quả nghiên cứu cho thấy tầng nguy cơ thấp là 0%; tầng nguy cơ trung bình chiếm tỷ lệ 65,5%; tầng nguy cơ cao chiếm tỷ lệ 12,2%; tầng nguy cơ rất cao chiếm tỷ lệ 22,3%. Tác giả nhấn mạnh, cần chú ý tỷ lệ gần ¼ đối tượng nghiên cứu ở tầng rất cao, đây là tầng có nguy cơ tim mạch tần suất tai biến mạch máu não nhiều nhất.
Đối với yếu tố nguy cơ tim mạch sau điều trị, nổi bật là yếu tố nguy cơ về huyết áp. Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố nguy cơ về huyết áp trước điều trị là 209 bệnh nhân giảm xuống chỉ còn 1 bệnh nhân; yếu tố nguy cơ về tuổi trước điều trị của nam giới 107 bệnh nhân và của nữ là 166 bệnh nhân. Sau điều trị, 109 bệnh nhân nam và nữ là 172 bệnh nhân. Đối với yếu tố nguy cơ về rối loạn lipit máu trước điều trị là 234 bệnh nhân, sau điều trị giảm được 1 bệnh nhân; yếu tố nguy cơ về hút thuốc trước điều trị là 31 bệnh nhân, sau điều trị còn 16 bệnh nhân. Tổng số các yếu tố nguy cơ trước điều trị là 822, sau điều trị giảm còn 601, giảm được gần 27% (p < 0,05) sau 24 tháng điều trị quản lý người bệnh. Như vậy việc điều trị đã giúp ích rất lớn trong việc ngăn ngừa biến chứng cho người bệnh. Điều lưu ý là sau 24 tháng điều trị, có 92% bệnh nhân đạt được huyết áp mục tiêu, đây là chủ đích hàng đầu phải đạt được của điều trị.
Đối với kết quả phân tầng nguy cơ tim mạch sau điều trị 24 tháng, tầng nguy cơ thấp trước điều trị 0%, sau điều trị là 8,5%; tầng nguy cơ trung bình trước điều trị là 65,5%, sau điều trị là 87,5%; tầng nguy cơ cao trước điều trị là 12,2%, sau điều trị giảm còn 3,5%; tầng nguy cơ rất cao trước điều trị là 22,3%, sau điều trị giảm còn 0,5%. Theo tác giả nghiên cứu đây là kết quả đáng mong đợi, cải thiện rất tốt về nguy cơ tim mạch của đối tượng nghiên cứu và có ý nghĩa thống kê (p < 0,05); khẳng định cho việc uống thuốc, thay đổi lối sống giảm nguy cơ, giảm biến chứng nguy hiểm của bệnh tăng huyết áp. Các yếu tố nguy cơ tim mạch tác giả nghiên cứu đưa ra gồm: mức độ huyết áp tâm thu và tâm trương; nam giới trên 55 tuổi, nữ giới trên 65 tuổi, hút thuốc lá, cholesterol toàn phần > 6,1 mmol/l hoặc LDL-C > 4,0 mml/L; HDL-C < 1,0 mmol/L ở nữ giới và < 1,2 mmol/L ở nam giới; tiền sử gia đình có người bị bệnh tim mạch sớm trước 50 tuổi và béo phì ít hoạt động thể lực. Tại Việt Nam tỷ lệ tăng huyết áp năm 2001 là 16,3%; năm 2005 là 18,3%; năm 2008 điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam tỷ lệ này là 25,1%. Dự báo ước tính hiện nay, Việt Nam có hơn 11 triệu người tăng huyết áp, đây là con số đáng báo động và là gánh nặng kinh tế của gia đình và quốc gia.
Thanh Tùng