HIV/AIDS được xem là mối hiểm họa của các quốc gia, các dân tộc trên toàn cầu. Từ trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở Việt Nam được phát hiện năm 1990, tính đến cuối năm 2015 cả nước hiện có 227.154 trường hợp nhiễm HIV còn sống và ước tính hiện có 254.000 người nhiễm HIV trong cộng đồng. Riêng 6 tháng đầu năm 2017, đã phát hiện 4.541 trường hợp nhiễm mới HIV số bệnh nhân chuyển sang AIDS là 2.321 trường hợp, tử vong do AIDS 799 trường hợp, nữ chiếm 32%, nam 68%.

Liệu pháp điều trị ARV giúp bệnh nhân nâng cao sức khỏe, kéo dài tuổi thọ, giảm mắc các bệnh cơ hội và giảm nguy cơ lây truyền. Tuy nhiên, ARV là liệu pháp điều trị suốt đời. Tuân thủ điều trị là yếu tố sống còn quyết định hiệu quả của liệu pháp này. Trong những năm gần đây hiện tượng HIV kháng thuốc điều trị ARV đang tăng lên trên toàn cầu. Tại khoa Truyền nhiễm Bệnh viện Bạch Mai có xuất hiện các trường hợp kháng thuốc với phác đồ điều trị ARV bậc 1. Để nâng cao hiệu quả của việc điều trị, cần liên tục cập nhật mức độ tuân thủ và các yếu tố liên quan trong điều trị ARV để có cơ sở đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời, hiệu quả.
Từ tháng 2/2017 đến tháng 10/2017, nhóm tác giả nghiên cứu Lê Thị Bình cùng cộng sự trường Đại học Thăng Long thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Kiến thức, thực hành tuân thủ điều trị của bệnh nhân ngoại trú nhiễm HIV/AIDS được quản lý tại bệnh viện Bạch Mai năm 2017”.
Tác giả phân tích báo cáo, đối tượng nghiên cứu nam giới cao hơn nữ (63,3% so với 36,7%), kết quả nghiên cứu này cao hơn kết quả nghiên cứu năm 2011 của Bộ Y tế về “Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030”. Điều này cho thấy nữ giới được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc, điều trị ngày càng nhiều hơn và tốt hơn.
Về nhóm tuổi: Nhóm tuổi > 40 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (51,9%), tiếp đến là nhóm tuổi từ 30-39 tuổi chiếm 41,9%. Qua đó thấy được tình hình dịch tiếp tục có xu hướng già hóa, bắt đầu chuyển dịch sang nhóm từ trên 40 tuổi. Ở một khía cạnh khác, có thể lý giải độ tuổi 30-49 là độ tuổi hoàn chỉnh về cả sinh lý cũng như thể chất, có tần số quan hệ tình dục cao, dễ lây nhiễm các bệnh lây qua đường tình dục. Bên cạnh đó, độ tuổi này có vai trò quan trọng trong gia đình cũng như xã hội, vì vậy bệnh nhân cần được nhắc nhở, động viên thường xuyên để tích cực tuân thủ điều trị ARV để kéo cuộc sống, có sức khỏe để duy trì các hoạt động sinh hoạt, lao động, để đảm bảo cuộc sống cho bản thân cũng như các thành viên trong gia đình.

Tình trạng hôn nhân: đối tượng đã có vợ/chồng chiếm tỷ lệ cao nhất (67,7%). Kết quả này cũng tương đồng với kết quả của Hoàng Huy Phương. Những bệnh nhân đã lập gia đình, trong đó đang có vợ/chồng: 62,9%. Đa phần các bệnh nhân nữ bị lây nhiễm từ chồng, vì vậy nhóm bệnh nhân có gia đình chiếm tỷ lệ cao cũng là điều dễ hiểu.
Nghề nghiệp: Trong nghiên cứu này tỷ lệ bệnh nhân nhiễm HIV chủ yếu thuộc nhóm có nghề nghiệp là nông dân hoặc công nhân (39,6%). Đây là những nghề nghiệp lao động chân tay vất vả, thu nhập thấp, kết quả của nghiên cứu cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Kính tại 8 tỉnh trong cả nước. Có thể nhận thấy rằng bệnh nhân HIV trong quá trình điều trị thường không ổn định về địa chỉ cư trú và việc làm, khó khăn về tài chính.
Tác giả nghiên cứu có kết luận
Kiến thức, tuân thủ điều trị ARV của người nhiễm HIV/AIDS
- Đạt kiến thức cơ bản về tuân thủ điều trị ARV chiếm 80,3%, không đạt chỉ chiếm 19,7%.
- Tỷ lệ tuân thủ thực hành điều trị ARV chiếm 68,9%, không tuân thủ 31,1%.
Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ARV của người bệnh
- Có sự khác biệt và có ý nghĩa thống kê giữa các trình độ của đối tượng nghiên cứu với tuân thủ điều trị thuốc ARV (p < 0,05).
- Có sự khác biệt và có ý nghĩa thống kê giữa nhóm nghề nghiệp là nông dân với tuân thủ điều trị thuốc ARV (p < 0,05).
- Có sự liên quan giữa có kiến thức và không có kiến thức nhận biết hậu quả của không tuân thủ với tuân thủ điều trị ARV (p < 0,05).
- Có sự liên quan giữa thực hành uống thuốc ARV với tuân thủ điều trị (P <0,01).
Nguyên Khải