
Ở thời kỳ sơ sinh, nhất là trong những ngày đầu sau sinh, trẻ sinh non càng dễ gặp hội chứng suy hô hấp cấp.
Theo các chuyên gia Nhi khoa, suy hô hấp cấp là sự rối loạn chức năng của phổi; làm thất bại quá trình trao đổi khí, thiếu oxy và tăng CO2 máu, vì vậy không có khả năng duy trì PaO2, PaCO2 và pH ở ngưỡng có thể chấp nhận được. Bác sĩ nhi khoa chẩn đoán suy hô hấp cấp trẻ sơ sinh dựa vào hỏi tiền sử, khám lâm sàng, các xét nghiệm.
Ở trẻ sinh non có thể phổi chưa trưởng thành, thiếu chất surfactant; bệnh màng trong hoặc do hệ thần kinh chưa hoàn chỉnh gây cơn ngừng thở; do sức đề kháng yếu làm dễ bị nhiễm trùng gây viêm phổi. Trường hợp trẻ sanh ngạt làm tuần hoàn phổi giảm, dễ có nguy cơ hơn; đối với trường hợp sanh mổ có thể có sự chậm hấp thu dịch phế nang gây ra cơn thở nhanh thoáng qua. Đối với trường hợp mẹ bị vỡ ối sớm, sốt trước sanh, dịch ối đục, có mùi hôi sẽ gây viêm phổi ở trẻ; trường hợp da tẩm nhuận phân su gây ra hít phân su; mẹ bị đái tháo đường làm ảnh hưởng tổng hợp surfactant gây ra bệnh màng trong; đối với những trường hợp trẻ bị lạnh, bị stress, bệnh lý khác sẽ làm gia tăng tiêu thụ oxy.
Bác sĩ thăm khám lâm sàng sẽ ghi nhận, trẻ thở nhanh ≥ 60 lần/phút; cơn ngưng thở > 20 giây hoặc < 20 giây kèm theo nhịp tim giảm < 100 lần/phút. Các triệu chứng như rút lõm ngực; phập phồng cánh mũi; thở rên (thì thở ra); tím tái trung tâm; đo và theo dõi độ bão hòa oxy trong máu SaO2 để có chỉ định oxy liệu pháp và sử dụng được lưu lượng oxy tối ưu, là lưu lượng oxy thấp nhất để đạt trị số SaO2 bình thường 90-96%; suy hô hấp sẽ có SaO2< 90%.
Các đề nghị xét nghiệm bao gồm phết máu ngoại biên nếu nghi nhiễm trùng huyết; Xquang tim phổi giúp phát hiện các bệnh kèm hoặc nguyên nhân gây suy hô hấp cấp như tràn khí màng phổi; tràn dịch màng phổi, viêm phổi, dị vật đường phổi, vị trí đặt nội khí quản đúng hay sai. Xét nghiệm tìm thành phần bất thường, pH < 7,25; PaO2< 50 mmHg và/hoặc PaCO2> 60 mmHg (thông khí phế nang không hiệu quả).
Suy hô hấp cấp trẻ sơ sinh được chẩn đoán xác định khi PaO2< 50 mmHg và/hoặc PaCO2> 60 mmHg và pH < 7,25. Các chuyên gia nhi khoa cho biết, cần chẩn đoán phân biệt nguyên nhân suy hô hấp sơ sinh, các bệnh lý nguy hiểm có thể chẩn đoán nhanh như tràn khí màng phổi, dấu hiệu có lồng ngực căng phồng một bên kèm phế âm giảm; do cao áp phổi tồn tại có dấu hiệu tím, SpO2 dao động, SpO2 tay phải (trước ống động mạch) cao hơn tay trái/chân (sau ống động mạch) từ 10% trở lên.

Đối với nguyên nhân do thoát vị hoành có dấu hiệu bụng lõm, phế âm giảm một bên; tim bị đẩy lệch đối bên; đối với tịt mũi sau có dấu hiệu trẻ bú kèm khó thở; khóc hồng; không khóc trẻ bị tím; nếu đặt catheter mũi 2 bên không thể đưa vào được; đối với nguyên nhân teo thực quản kèm dò thực quản – khí quản có dấu hiệu trào bọt nhiều ở mũi, miệng.
Bác sĩ sẽ thực hiện chẩn đoán phân biệt các nguyên nhân suy hô hấp thường gặp ở trẻ sơ sinh, cụ thể đối với bệnh màng trong thường ở trẻ non tháng đến đủ tháng, lâm sàng có suy hô hấp sớm sau sanh; đối với trường hợp do hít phân su ở trẻ già tháng, đủ tháng; lâm sàng lồng ngực trẻ căng phồng; nhuộm phân su da, móng, cuống rốn. Trường hợp ngạt, viêm phổi hít (ối, máu) xảy ra ở trẻ già tháng, đủ tháng, lâm sàng suy hô hấp, có các dấu hiệu thần kinh; đối với nguyên nhân do viêm phổi xảy ra ở mọi tuổi; đối với tràn khí màng phổi xảy ra ở trẻ đủ tháng, non tháng, dấu hiệu lồng ngực căng phồng một bên; transilumination (+); đối với thở nhanh thoáng qua ở trẻ sơ sinh, có thể đủ tháng, non tháng; dấu hiệu lâm sàng có thở nhanh, rên nhẹ; ít gây suy hô hấp nặng; thường đối với trường hợp sinh mổ, kẹp rốn trẻ. Đối với nguyên nhân thoát vị hoành, dấu hiệu lâm sàng có phế âm mất một bên, bụng lõm; đối với bệnh lý teo thực quản dấu hiệu sùi bọt mũi miệng, không thể đặt được thông dạ dày; đối với tim bẩm sinh dấu hiệu lâm sàng suy hô hấp hiếm khi dưới 4 giờ sau sinh.
Các bác sĩ nhi khoa cho biết, nguyên tắc điều trị suy hô hấp cấp trẻ sơ sinh là thông đường thở; cung cấp oxy, điều trị nguyên nhân và điều trị hỗ trợ. Thông đường thở giải quyết nguyên nhân tắc, chèn ép đường hô hấp; kiểm tra và hút đờm mũi miệng. Trong trường hợp trẻ tắc mũi sau, kích thích cho trẻ khóc giúp trẻ thở qua miệng; đặt ống thông miệng hầu giúp thở qua miệng; cần có bác sĩ chuyên khoa Tai mũi họng can thiệp. Mục tiêu xử trí cung cấp O2 là giữ SaO2 từ 90% - 96% (PaO2 từ 50-80 mmHg); phải thực hiện khẩn trương, tích cực; bảo đảm nồng độ oxy thích hợp trong khí thở; FiO2 = 100% nếu trẻ tím tái; nếu trẻ hết tím, giảm dần FiO2 xuống. Tùy theo nguyên nhân bác sĩ sẽ có phương án điều trị như cần phải can thiệp ngoại khoa hoặc điều trị nội khoa. Trẻ được sử dụng surfactant đối với bệnh màng trong, viêm phổi hít phân su.
Hoa Phượng