[Đăng ngày: 15/12/2015]
    Tại Hội nghị khoa học Tim mạch miền Trung Tây Nguyên lần thứ 8 được tổ chức vào tháng 12/2015, tác giả Nguyễn Hữu Trâm Em cùng cộng sự báo cáo nghiên cứu “Kết quả bước đầu đánh giá giá trị của chụp cắt lớp vi tính trong tái hẹp trong stent động mạch vành”.
    Tiêu chuẩn chọn bệnh của nghiên cứu là sau 12 tháng đặt stent (cả stent trần và stent có phủ thuốc), các bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng đau ngực nghi ngờ do tái hẹp trong stent, có chỉ định chụp động mạch vành xâm nhập theo hướng dẫn của Hội Tim mạch Việt Nam được đưa vào nghiên cứu. Bệnh nhân trước khi chụp động mạch vành xâm nhập được thực hiện chụp cắt lớp vi tính 64 lát cắt để đánh giá hệ thống mạch vành và tình trạng tái hẹp trong stent. Ngoài ra ở những bệnh nhân đã được đặt stent nhiều nhánh động mạch vành khi xuất hiện đau thắt ngực, nếu có 1 nhánh tái hẹp hoặc một tổn thương mới trên chụp cắt lớp vi tính sẽ có chỉ định chụp động mạch vành xâm nhập và những nhánh có stent không hẹp được xem là nhóm chứng. Kết quả dương tính thật là cả 2 phương pháp chụp vi tính 64 lát cắt và chụp mạch vành xâm nhập đều ghi nhận đoạn stent động mạch vành hẹp lớn hơn hoặc bằng 50%.
    Kết quả nghiên cứu theo tác giả trình bày cho thấy, trong số 21 bệnh nhân có đau thắt ngực đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, có 15 nam, 06 nữ; tuổi trung bình là 67,8. Tổng số stent được đánh giá là 29, trong đó 13 stent liên thất trước, 12 stent nhánh vành phải, 3 stent nhánh mũ và 1 stent nhánh chéo. Có 95% đối tượng nghiên cứu có tiền sử tăng huyết áp; 38% có nhồi máu cơ tim; 57% có tăng lipit máu; 33% có hút thuốc lá; 71% đái tháo đường và tiền sử gia đình có 02 trường hợp (9,5%).
    Qua kết quả nghiên cứu xác minh, có 11 bệnh nhân được chẩn đoán tái hẹp bằng chụp động mạch vành xâm nhập; thời gian chẩn đoán tái hẹp trung bình 24 tháng; trong 10 bệnh nhân không tái hẹp trên chụp cắt lớp 64 lát cắt hầu hết có chỉ định chụp động mạch vành xâm nhập vì có hẹp ở nhánh khác không stent.
    Theo BS. Trâm Em, các bệnh nhân được sử dụng stent phủ thuốc thì khả năng tái hẹp sẽ tiến triển muộn, có thể xuất hiện sau hơn 1-2 năm. Những trường hợp đường máu không kiểm soát tốt, nhồi máu cơ tim cũ tỷ lệ tái hẹp sẽ cao hơn. Đối với giá trị chẩn đoán của chụp cắt lớp vi tính, kết quả ban đầu cho thấy kỹ thuật này có nhiều giá trị góp phần trong chẩn đoán tái hẹp ở những bệnh nhân có cơn đau thắt ngực ổn định; độ nhạy, độ đặc hiệu của phương pháp chụp cắt lớp vi tính là 90-93%. Tuy nhiên tác giả nghiên cứu cũng lưu ý do cỡ mẫu nghiên cứu nhỏ nên cần có thêm nhiều nghiên cứu để kết luận chắc chắn hơn.
    Tác giả nghiên cứu đã có kết luận là chụp cắt lớp vi tính 64 lát cắt là kỹ thuật có giá trị góp phần để chẩn đoán tái hẹp trong stent động mạch vành với độ nhạy và độ đặc hiệu khá cao. Việc áp dụng kỹ thuật này cho những bệnh nhân có lâm sàng ổn định giúp cho việc phân tầng chẩn đoán theo từng bước hợp lý nhằm tránh chụp mạch vành xâm nhập không cần thiết, đặc biệt là ở những bệnh nhân có triệu chứng cần xác định có phải là tổn thương hẹp mạch vành mới hay do tái hẹp.
    Bệnh mạch vành là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở các nước phát triển và đang gia tăng nhanh ở một số nước đang phát triển. Tại Việt Nam hiện nay đang thực hiện tốt quy trình khám chữa bệnh, phát triển các kỹ thuật chẩn đoán sinh học và hình ảnh học để chẩn đoán chính xác bệnh mạch vành.
    Sự ra đời kỹ thuật nong mạch vành bước đầu đem đến kết quả tái thông nhanh chóng làm giảm được tỷ lệ tử vong do nhồi máu cơ tim cấp. Tuy nhiên, tình trạng tái hẹp sau thực hiện đặt stent đang được quan tâm. Stent kim loại đã mở ra một triển vọng mới khi lòng mạch hẹp đã được cố định bởi một giá đỡ. Tuy nhiên vẫn còn tỷ lệ khá cao tái hẹp động mạch vành trong năm đầu tiên sau can thiệp. Sự ra đời của stent phủ thuốc đã góp phần thay đổi rõ rệt tình trạng tái hẹp sau can thiệp và đưa tỷ lệ tái hẹp về mức thấp nhất. Tuy nhiên, stent phủ thuốc được sử dụng khá rộng rãi và can thiệp ở những tổn thương phức tạp và nhỏ nên tình trạng tái hẹp dù đã giảm hơn nhưng vẫn còn là vấn đề quan trọng chú ý hiện nay. Nếu trong tái hẹp, chỉ một phần nhỏ người bệnh có thể tiến triển hội chứng vành cấp để cần đến sự can thiệp nhanh chóng và chụp mạch vành xâm lấn vẫn là tiêu chuẩn vàng để quyết định can thiệp. Trái lại phần lớn những trường hợp tái hẹp diễn biến từ từ, có khi không triệu chứng, do đó cần một kỹ thuật không xâm nhập giúp cho việc tiếp cận chẩn đoán dễ dàng, nhanh chóng và an toàn hơn. Nhiều kỹ thuật được đề xuất như Đo điện tim gắng sức, siêu âm tim gắng sức nhưng giá trị của kỹ thuật này còn hạn chế. Kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính đa lát cắt đã thay đổi rất nhiều trong việc đánh giá hình ảnh giải phẫu mạch vành nhờ vào khả năng tái tạo hình ảnh với độ li giải cao của không gian và thời gian. Tuy nhiên vẫn cần có nhiều nghiên cứu để tìm hiểu những ưu điểm, nhược điểm của phương pháp chụp cắt lớp vi tính trong tái hẹp mạch vành và chụp mạch vành xâm lấn trong đánh giá tái hẹp trong stent mạch vành.
Mai Trang
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 188

Số lượt truy cập: 9370407

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang