Theo Tổ chức Y tế Thế giới, thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “Nên có” so với chiều cao; Béo phì là tình trạng tích lũy mỡ thái quá và không bình thường một cách cục bộ hoặc toàn thể dẫn đến những ảnh hưởng xấu cho sức khỏe. Thừa cân, béo phì đang là vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng trên toàn cầu. Trong những năm gần đây, tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ em có xu hướng gia tăng tại nhiều quốc gia trên thế giới. Năm 2012, theo thống kê của trung tâm phòng chống và kiểm soát bệnh tật (CDC) của Mỹ thỉ tỷ lệ thừa cân, béo phì của trẻ 2-5 tuổi là 8,4%, trẻ 6-11 tuổi là 17,7%, trẻ 12-19 tuổi là 20,5%.
Điều đáng lo ngại là tốc độ gia tăng nhanh của thừa cân, béo phì ở các nước đang phát triển trong những năm gần đây. Năm 2010, kết quả phân tích từ 450 điều tra cắt ngang về tình trạng thừa cân, béo phì trẻ em của 144 nước trên thế giới cho thấy: có 43 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân, béo phì (trong đó 35 triệu trẻ em ở các nước đang phát triển và 8 triệu trẻ em ở các nước phát triển).

Ở Châu Á, số lượng trẻ em bị thừa cân, béo phì đã tăng từ 13 triệu năm 1990 lên 18 triệu năm 2010, cao nhất trong 3 châu lục này. Hiện nay, thừa cân, béo phì ở trẻ em đã trở thành vấn đề sức khỏe ưu tiên thứ hai trong việc phòng chống bệnh tật ở các nước Châu Á và được xem như là một trong những thách thức hàng đầu với ngành dinh dưỡng và y tế. Ở nước ta, thừa cân, béo phì cũng đang tăng nhanh và trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng. Kết quả của tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi là 1,1% (năm 1999), 2,7% (năm 2000) và đến năm 2014 là 4,8% trên phạm vi toàn quốc (34-36). Năm 2014, tỷ lệ thừa cân, béo phì của trẻ em dưới 5 tuổi của tỉnh Bình Dương là cao nhất chiếm 13,4%, tiếp theo là thành phố Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh (10,8-12,6%), tỉnh Đồng Nai và Khánh Hòa có tỷ lệ thừa cân, béo phì dao động từ 8-8,7%. Một số tỉnh thành khác như: Hà Nam, Hà Nội, Quảng Ninh, Tây ninh, Long An và Bến Tre có tỷ lệ thừa cân, béo phì dao động trong khoảng từ 5,4-9,2%.
Tình hình thừa cân, béo phì của trẻ 5-19 tuổi cũng rất đáng lo ngại. Theo kết quả của tổng điều tra dinh dưỡng năm 2009-2010: tỷ lệ thừa cân, béo phì của trẻ 5-19 tuổi trên toàn quốc là 8,5%, trong đó tỷ lệ thừa cân, béo phì của trẻ em thành phố là 15,4%, trẻ em nông thôn là 6,6% và của trẻ em ở các thành phố trực thuộc trung ương là 27,4%. Trong những năm gần đây, tình hình thừa cân, béo phì của học sinh tiểu học ở một số thành phố lớn như thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cũng tăng khá nhanh. Kết quả điều tra năm 2004 của 7 quận nội thành Hà Nội cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì của trẻ 7-12 tuổi là 7,9%. Năm 2011, kết quả điều tra 15 trường tiểu học của các quận nội thành Hà Nội cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì của trẻ 6-11 tuổi là 40,7%. Kết quả điều tra về tình hình béo phì và rối loạn chuyển hóa lipid máu của trẻ 4-9 tuổi tại quận Hoàn Kiếm năm 2014 cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì là 39,9%. Điều tra về tình hình thừa cân, béo phì của học sinh tiểu học tại Quận 10 thành phố Hồ chí Minh năm 2008-2009 cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì là 28,5%. Năm 2012, kết quả điều tra tại hai trường tiểu học của thành phố Hồ chí Minh cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì của trường tiểu học Hồ Thị Kỷ là 54,4% và trường tiểu học Phú Hòa Đông là 31,2%. Thừa cân, béo phì ở trẻ em có nguy cơ dẫn đến béo phì khi trưởng thành, cũng như các rối loạn bệnh lý khác liên quan tới béo phì. Nghiên cứu ở Nhật Bản cho thấy có đến 30% trẻ béo sẽ trở thành người béo khi trưởng thành kèm theo các rối loạn bệnh lý khác liên quan tới béo phì.
Thừa cân, béo phì liên quan đến bệnh đường tiêu hóa. Thừa cân, béo phì sẽ làm tăng nguy cơ bị sỏi mật ở mọi lứa tuổi và giới lên gấp 3-4 lần, nguy cơ này cao hơn khi mỡ tập trung quanh bụng. Tình trạng đó làm tăng bài tiết mật, tăng mức bão hòa cholesterol trong mật cùng với mức co dãn của túi mật giảm dẫn tới bệnh sỏi mật. Gan, ruột nhiễm mỡ cũng thường thấy ở người béo phì. Trẻ béo phì có thể bị gan to và rất khó phát hiện trên lâm sàng do bị che lấp bởi mỡ bụng. Ruột nhiễm mỡ sẽ làm giảm nhu động ruột gây đầy hơi, táo bón, hệ mạch ở ruột bị cản trở và gây trĩ.
Vấn đề về nội tiết và chuyển hóa, các báo cáo khoa học gần đây cho thấy một sự gia tăng đáng kể tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường type 2 (đái tháo đường không phụ thuộc insulin) ở trẻ em béo phì. Do vậy, trẻ bị béo phì nên được xét nghiệm glucose máu định kỳ và việc điều trị đái tháo đường cho trẻ bị béo phì nên được thực hiện tại phòng khám chuyên khoa nhi sau khi có những đánh giá đầy đủ về nội tiết. Thừa cân, béo phì ở trẻ em làm tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính không lây và hội chứng chuyển hóa. Tình trạng tăng huyết áp, đái tháo đường type 2 và rối loạn chuyển hóa lipid máu có thể xuất hiện đồng thời ở trẻ béo phì. Nguyên nhân chủ yếu là do đề kháng insulin gây ra bởi tình trạng thừa cân, béo phì.
Thừa cân, béo phì và rối loạn các hormon nội tiết ảnh hưởng tới chức năng sinh sản. Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy có sự thay đổi hormon của người béo phì, đặc biệt với những người tích lũy nhiều mỡ trong ổ bụng như là giảm nồng độ progesterol ở phụ nữ, giảm nồng độ testosteron ở nam, tăng sản xuất cortisol và giảm nồng độ hormon tăng trưởng. Hiện tượng này không chỉ xảy ra trên người thừa cân, béo phì ở tuổi trưởng thành mà có thể xảy ra trong trường hợp béo phì thời thơ ấu và thanh thiếu niên. Phụ nữ và trẻ gái bị những hậu quả của tình trạng béo phì như đề kháng insulin, rối loạn chuyển hóa lipid máu và tăng huyết áp sẽ tăng nguy cơ bị hội chứng bường trứng đa nang. Trẻ vị thành niên nữ bị béo phì thường gặp những rối loạn về kinh nguyệt như kinh nguyệt không đều.
Ngô Thanh