
Dinh dưỡng hợp lý là yếu tố môi trường quan trọng đối với sự tăng trưởng và kiểm soát sức khỏe, bệnh tật trong các giai đoạn vòng đời.
Tại hội nghị quốc tế cấp cao về dinh dưỡng lần thứ hai tổ chức tại Rome tháng 11/2014, các chuyên gia cảnh báo tình trạng suy dinh dưỡng toàn cầu vẫn tồn tại ở mức cao trong thời gian dài.
Khi nhắc tới suy dinh dưỡng, nó không chỉ đơn thuần là nạn đói mà còn ám chỉ khái niệm “đói tiềm ẩn” hay tình trạng thiếu các vi chất thiết yếu như Vitamin A, D, sắt và kẽm. Thiếu vi chất dinh dưỡng hiện nay đang là vấn đề sức khỏe toàn cầu.
Tại Việt Nam, suy dinh dưỡng và thiếu vi chất dinh dưỡng đang là vấn đề có nghĩa sức khỏe cộng đồng, trong đó nhóm đối tượng có nguy cơ cao là phụ nữ và trẻ em, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi. Nguyên nhân chủ yếu là do chế độ ăn không hợp lý, do tập quán và thói quen ăn uống không đúng dẫn đến thiếu hụt dinh dưỡng so với nhu cầu cơ thể, mặt khác do việc bổ sung một số yếu tố vi chất thiết yếu không đầy đủ. Do vậy, khảo sát đặc điểm khẩu phần cho trẻ em nhằm xây dựng khẩu phần ăn cân đối, thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng là yêu cầu bức thiết để đảm bảo sức khỏe, gián tiếp nâng cao chất lượng giống nòi.
Từ tháng 8/2015 đến tháng 12/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Minh Chính cùng cộng sự bệnh viện Nhi Thái Bình, trường Đại học Y Dược Thái Bình; bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương thực hiện báo cáo nghiên cứu “Đặc điểm khẩu phần trẻ em từ 36 đến dưới 60 tháng tuổi tại 2 xã huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình”.
Thiết kế nghiên cứu là nghiên cứu dịch tễ học mô tả, điều tra cắt ngang. Địa bàn nghiên cứu là huyện Vũ Thư; nhóm tác giả chọn xã: Lập danh sách toàn bộ các xã trên địa bàn Vũ Thư. Bốc thăm ngẫu nhiên lấy 4 xã để nghiên cứu. Chọn đối tượng điều tra: sau khi làm xét nghiệm Hemoglobin, được 2 xã Nguyên Xá và Minh Khai có tỷ lệ trẻ thiếu máu cao để điều tra khẩu phần. Lập danh sách toàn bộ các trẻ từ 36 đến dưới 60 tháng tuổi đồng ý tham gia nghiên cứu và đáp ứng các tiêu chuẩn chọn mẫu, được 278 trẻ tiến hành điều tra khẩu phần 24 giờ và tần suất tiêu thụ thực phẩm.
Tác giả nghiên cứu phân tích báo cáo nghiên cứu, sự tăng trưởng kinh tế rõ rệt đã dẫn đến những thay đổi lớn về khẩu phần ăn của người Việt Nam nói chung và trẻ em dưới 5 tuổi nói riêng. Cơ cấu khẩu phần ăn của trẻ em đã thay đổi cả về lượng và chất, có xu hướng tăng chất đạm và chất béo, giảm chất bột đường (glucid).

Tần suất tiêu thụ thường xuyên của nhóm thực phẩm giầu đạm ở trẻ em gồm: thịt lợn, trứng gà, trứng vịt, cá. Trong đó thịt lợn là tỷ lệ chiếm cao nhất, đơn giản là vì: thịt lợn dễ chế biến thành nhiều món ăn khác nhau; món xào, nướng, rán, làm nguyên liệu cho các món ăn khác. Mặt khác thịt lợn là thực phẩm dễ kiếm lại giầu dinh dưỡng, nhất là hàm lượng protein, nhiều loại vitamin và khoáng chất. Trong nghiên cứu của chúng tôi nhóm thực phẩm cung cấp glucid, nhóm gạo, ngô, khoai được dùng phổ biến trong bữa ăn hàng ngày > 90%, bởi Thái Bình là tỉnh nông nghiệp nên tần suất sử dụng nhóm thực phẩm này là điều dễ thấy.
Tác giả nhiên cứu phân tích, mức năng lượng có trong khẩu phần ăn cả ngày của trẻ trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mịnh Chính là 1135,1 + 201,9 Kcal cao hơn của tác giả Trần Quang Trung, tác giả Nguyễn Thị Thùy Ninh tại Hà Nội. Khả năng đáp ứng về năng lượng trong nghiên cứu này mới chỉ đạt 28,1% theo nhu cầu khuyến nghị, kết quả này cao hơn nghiên cứu cảu tác giả Ninh Thị Phụng (15,5%). Cơ cấu năng lượng khẩu phần có 16,4% năng lượng do protein cung cấp, 28% năng lượng do lipid cung cấp và 55,7% năng lượng do glucid cung cấp.
Lượng protein tổng số trong khẩu phần của trẻ 46,2g/ngày và chiếm 16,2% năng lượng khẩu phần đáp ứng được nhu cầu khuyến nghị của Viện dinh dưỡng. Protein động vật đóng vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển của trẻ em được tiêu thụ ở mức 29,1g/trẻ/ngày. Tỷ lệ protein động vật/tổng số là 61,8%, đã đạt nhu cầu khuyến nghị cho trẻ em ở lứa tuổi này (> 50%). Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thùy Ninh tại Hà Nội.
Tác giả nghiên cứu có kết luận, nghiên cứu đặc điểm khẩu phần trẻ em từ 36 đến dưới 60 tháng tuổi tại 2 xã huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình cho thấy hàm lượng protein, lipid của trẻ trong khẩu phần là 46,2+10,5g/ngày và 35,1+13,1g/ngày. Có 28,1% trẻ đạt nhu cầu khuyến nghị về năng lượng, trong đó ở trẻ nam là 22,1% và ở trẻ nữ là 34,6%. Có 58,3% trẻ đạt nhu cầu khuyến nghị về tỷ lệ protein ĐV/protein tổng số. Tỷ lệ trẻ đạt nhu cầu khuyến nghị Calci, kẽm, photphos, sắt lần lượt là 24,1%; 50,7%; 82% và 47,5%. Tỷ lệ trẻ đạt nhu cầu khuyến nghị vitamin A, C, B1, B2, PP lần lượt là 26,6%; 34,2%; 69,1%; 45,3% và 21,2%.
Hữu Cao