Nhóm tác giả nghiên cứu Bùi Thị Vân Anh cùng cộng sự bệnh viện Mắt Trung Ương tiến hành nghiên cứu trong thời gian 1 năm nhằm mục tiêu đánh giá hiệu quả của laser quang động lên tân mạch dưới hoàng điểm cũng như các biến chứng của phương pháp điều trị.
Bác sĩ Bùi Thị Vân Anh cho biết, đối tượng nghiên cứu là những mắt bị thoái hóa hoàng điểm tuổi già thể ướt (có tân mạch dưới hoàng điểm) đến khám trong khoảng thời gian 2001-2002 tại bệnh viện CHIC de Tarbes, cộng hòa Pháp.

Phương pháp nghiên cứu mô tả phương pháp điều trị; bệnh nhân thuộc nhóm nghiên cứu được khám lâm sàng, khám toàn thân và chụp mạch huỳnh quang để đánh giá tình trạng tổn thương đáy mắt trước điều trị.
Phương tiện điều trị: Laser bước sóng 690nm, chùm tia chiếu liên tục, kính 3 mặt gương, bơm tiêm tĩnh mạch chậm, thuốc Visudyne (Verteporfine) 15mg pha nồng độ 2mg/ml, kính bảo vệ mắt sau điều trị.
Liệu trình điều trị: tiêm Visudyne tĩnh mạch liều 6mg/m2 bề mặt cơ thể. Thời gian tiêm 10 phút, tốc độ 3ml/phút. Chiếu Laser: liều 600mW/cm2 bề mặt, thời gian chiếu 83s, cường độ 50J/cm2, đường kính vết đốt bằng đường kính lớn nhất của tổn thương cộng thêm 1000µ, không vượt quá 5500µ, điều trị qua vết tổn thương 500µ và cách bờ gai thị ít nhất 200µ. Sau Laser bệnh nhân sử dụng kính bảo vệ tránh ánh sáng trong vòng 48 giờ.
Các biến đổi về thị lực, kích thước tổn thương, được thu thập và phân tích sau 1 năm điều trị.
Bác Sĩ Vân Anh báo cáo kết quả nghiên cứu, đặc điểm chung trước điều trị; nghiên cứu thực hiện laser quang động trên 85 bệnh nhân (66 nữ; 29 nam) gồm 105 mắt bị thoái hóa hoàng điểm tuổi già có biến chứng tân mạch dưới võng mạc vùng hoàng điểm. Bệnh nhân có tuổi trung bình 77,5. Trong số 105 mắt nghiên cứu có 63 mắt xuất hiện biến chứng tân mạch ngay ở mắt thứ nhất bị bệnh, 27 xuất hiện trên mắt thứ hai bị bệnh và 5 bệnh nhân có biểu hiện tân mạch trên cả hai mắt.
Đặc điểm trên chụp mạch quỳnh quang cho thấy 86 mắt có dấu hiệu tân mạch dạng cổ điển chiếm 81,9%. 19 mắt còn lại tân mạch ở dạng che lấp (dưới lớp biểu mô sắc tố võng mạc) mặc dù vẫn có vài điểm tân mạch được bộc lộ ở dạng cổ điển. Tiến hành chụp mạch ICG để đánh giá chính xác tổn thương cũng như các tổn thương phối hợp và nhận thấy: 5 mắt có kết hợp bong biểu mô sắc tố, 8 mắt tân mạch che lấp được kết lại thành mảng, 3 mắt có phát hiện điểm rò mạch và 3 mắt tạo mảng sáng thuốc lấm tấm không rõ ranh giới. Liên kết các tế bào biểu mô sắc tố võng mạc quá chặt khiến tân mạch không thể xuyên qua cũng như không làm bong được lớp tế bào này khỏi màng Bruch có thể là nguyên nhân khiến sự hình thành tân mạch dạng mảng chiếm tới 7,6% trường hợp. % mắt trong nhóm nghiên cứu có biến chứng xuất huyết trước võng mạc. Các mắt này đều được tiêm thuốc Actilyse kết hợp bơm khí C3F8 giúp tiêu máu trước khi tiến hành laser.

Đặc điểm của 44 mắt được theo dõi kết quả sau 1 năm: nhóm nghiên cứu theo dõi được 44 mắt của 44 bệnh nhân (12 nam và 32 nữ). Trên chụp mạch huỳnh quang 38 mắt thuộc hình thái tân mạch cổ điển, 5 mắt dạng tân mạch che lấp, 1 mắt có tân mạch dạng hỗn hợp nhưng phần tân mạch cổ điển có kích thuốc nhỏ (<1500µ) và ưu thế với dạng tân mạch che lấp.
Bác sĩ Vân Anh báo cáo kết quả điều trị, trong quá trình theo dõi 1 năm, đã thực hiện 162 lượt laser cho 44 bệnh nhân, trung bình 3,7 lượt. Thời gian trung bình từ khi bắt đầu điều trị tới khi hết tân mạch là 11 tuần (3-21 tuần); khoảng cách giữa 2 lượt laser trung bình là 6,5 tuần (từ 3-7 tuần). Đa số các trường hợp cần laser nhiều lần mới triệt tiêu được tân mạch dưới võng mạc (39/44 mắt 88,6%), đặc biệt là các trường hợp tân mạch dạng che lấp (6/6 trường hợp phải laser trên 6 lần trong 1 năm). Trước điều trị, đa số trường hợp có tổn thương vùng hoàng điểm có kích thước ở nhóm trung bình từ 1500-3000µ (54,5%) có 31,8% trường hợp kích thước tổn thương nhỏ <1500µ và rất ít mắt có tổn thương rất lớn (13,7%). Trong tổn thương vùng hoàng điểm thường bao gồm tổn thương tân mạch, di thực sắc tố, teo biểu mô sắc tố, xuất huyết trong và trước võng mạc, các đốm hoặc vòng Drusen, các đốm xuất huyết cứng. Các tổn thương thoái hóa hoàng điểm thường phối hợp hình thái ướt (có tân mạch) với hình thái teo, tuy nhiên hình thái tân mạch chiếm ưu thế.
Các mắt có kích thước tổn thương trước điều trị nhỏ <1500µ có kích thước trung bình là 1136µ. Sau điều trị laser do tác động gây tổn thương thêm lên lớp tế bào biểu mô sắc tố kết hợp tiến triển thoái hóa của bệnh khiến kích thước tổn thương thường tăng lên. Ở nhóm mắt có kích thước tổn thương nhỏ, sau điều trị 1 năm, kích thước tổn thương trung bình là 1800µ tăng lên 58% so với trước điều trị. Mặc dù tỷ lệ tăng thêm kích thước tổn thương tương đối cao nhưng so với tổng thể tổn thương thì sự tăng thêm về kích thước tuyệt đối là không đáng kể.
Văn Hanh