Vết thương mạn tính là thách thức đối với việc chăm sóc vết thương và đòi hỏi có nguồn lực y tế lớn để chăm sóc và điều trị.

Theo các chuyên gia, bệnh kết hợp thường là nguyên nhân làm cho quá trình liền vết thương không tiến hành được và cũng chính bệnh kết hợp làm cho vết thương mạn tính có những đặc điểm phong phú, tạo ra nhiều loại vết thương mạn tính khác nhau, vì vậy điều trị vết thương mạn tính gặp nhiều khó khăn.
Hiện nay nhiều nơi trên thế giới phát triển trị liệu tế bào gốc để khắc phục những khiếm khuyết mô tại chỗ vết thương đang được ứng dụng rộng rãi; trong đó có trị liệu tế bào gốc mô mỡ. Từ tháng 2/2015 đến tháng 6/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Tiến Dũng, khoa Liền viết thương – Viện bỏng quốc gia, Bộ môn mô phôi – Học viện quân y tiến hành nghiên cứu và báo cáo đề tài “Tác dụng của ghép tế bào gốc mô mỡ tự thân lên biến đổi lâm sàng tại chỗ vết thương mạn tính”.
Đối tượng nghiên cứu là 30 bệnh nhân bị vết thương mạn tính do các nguyên nhân khác nhau, tuổi từ 16 trở lên, không mắc bệnh viêm gan B, C, HIV; Loại trừ những bệnh nhân bị vết loét do ung thư, xạ trị ung thư; phụ nữ mang thai, cho con bú. Thiết bị vật tư nghiên cứu là tấm tế bào gốc mô mỡ tự thân do khoa Labo – Viện bỏng quốc gia cung cấp. Nhiệt kế điện tử Microlife FR1DZ1 do Thụy Sĩ sản xuất. Phần mềm đo kích thước Image Proplus 4.5 Mỹ. Tất cả đối tượng nghiên cứu khi vào Viện được thu thập thông tin tuổi, giới tính, nguyên nhân gây nên vết thương mạn tính, vị trí vết thương và những bệnh lý kết hợp.

BS Dũng báo cáo, 30 bệnh nhân tham gia nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 53,5; tỉ lệ nam/nữ là 2,3. Có 29/30 đối tượng nghiên cứu có bệnh lý kết hợp. Có 38 vết thương mạn tính có thời gian tồn tại trung bình 4 tháng. Nguyên nhân gây nên vết thương mạn tính gặp nhiều nhất là nhiễm khuẩn (39,5%); tì đè 31,5%; do đái tháo đường là 10,5%. Phần lớn vết thương được ghép tế bào gốc mô mỡ tự thân có tổn thương độ III, chỉ có 1 vết thương có tổn thương kết hợp độ II và độ III. Vết thương ở chi dưới chiếm tỉ lệ 60,5%. Vết thương vùng cùng cụt có 31,6%; vết thương vùng đầu, mặt, cổ chiếm 5%; có 1 vết thương ở vùng thân sau.
Tác giả nghiên cứu phân tích, độ ẩm vùng bờ mép vết thương mạn tính chịu tác động của tình trạng tưới máu và dịch tiết tại chỗ vết thương. Trong trường hợp da lành xung quanh vết thương khô với biểu hiện có vẩy, teo hoặc sừng thường gặp trong tình trạng vết thương thiếu máu. Lúc này vết thương có thể không có dịch tiết, băng dính chặt vào bề mặt vết thương. Trường hợp vùng xung quanh vết thương ẩm ướt thường gặp trong tình trạng vết thương tiết dịch quá nhiều, băng lại không thể thấm hút hết được.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy sau ghép tế bào gốc mô mỡ tự thân, số lượng dịch tiết tại chỗ vết thương mạn tính giảm theo thời gian dẫn tới tình trạng bất thường về độ ẩm ở bờ mép vết thương mạn tính cũng được cải thiện rõ rệt. Tác giả nghiên cứu cho rằng tình trạng ẩm ướt vùng bờ mép vết thương mạn tính được cải thiện, kết hợp với tình trạng tăng tưới máu nhờ tăng sinh mạch tân tạo vùng bờ mép vết thương mạn tính sau ghép tế bào gốc mô mỡ tự thân. Có thể làm nhiệt độ vùng bờ mép vết thương mạn tính trở về bình thường.
Tác giả nghiên cứu lưu ý, theo quá trình liền vết thương, đối với các vết thương không thể làm liền một thì mà phải làm liền 2 hoặc 3 thì như vết thương mạn tính, thì việc chăm sóc vết thương để nền vết thương có mô hạt đỏ đẹp là một mục tiêu quan trọng. Tế bào gốc mô mỡ tự thân kích thích tăng sinh nguyên bào sợi không chỉ bằng cơ chế tiếp xúc trực tiếp tế bào. Tế bào mà còn tác động cơ chế paracrine từ các yếu tố tế bào gốc mô mỡ tiết ra. Cùng với việc kích thích nguyên bào sợi tổng hợp chất nền ngoại bào cũng là yếu tố quan trọng để hình thành mô hạt đỏ đẹp, ngoài ra còn có sự kích thích tăng sinh mạch máu tân tạo.
Sau ghép tế bào mô mỡ tự thân vết thương mạn tính tiết dịch nhiều giảm dần theo thời gian. Việc duy trì liên tục tấm tế bào gốc che phủ kín bề mặt vết thương có tác dụng giảm sang chấn, ô nhiễm do sự di chuyển đi lại của người bệnh. Tác giả cho biết, 100% vết thương mạn tính sau ghép tế bào gốc mô mỡ tự thân được phẫu thuật liền ngay sau lần phẫu thuật đầu tiên.
Minh Tâm