[Đăng ngày: 15/01/2018]
Theo các chuyên gia cột sống, thay đổi Modic hay còn gọi là thoái hóa bề mặt thân sống (endplate), là một sự thoái hóa mô tập trung vào các xương ở cột sống và tủy xương sát đĩa đệm bị thoái hóa hoặc thoát vị thường gặp và thấy rõ nhất trên phim cộng hưởng từ. 

Thay đổi Modic được tác giả Micheal Modic mô tả vào năm 1988, với 3 týp. Modic thường liên quan đến gãy xương cột sống, thoát vị đĩa đệm, thoái hóa đĩa đệm nặng, thoát vị Schmord. Thay đổi Modic đặc biệt là Modic týp 1 có liên quan chặt chẽ với đau cột sống thắt lưng và đau thắt lưng hông. Những bệnh nhân có thay đổi Modic thường đau nhiều hơn những bệnh nhân đau thắt lưng do thoái hóa thông thường. 

Các chuyên gia nhận xét, việc chẩn đoán hiện nay thường bị bỏ qua hoặc chẩn đoán nhầm do chưa có nhiều hiểu biết về bệnh dẫn đến việc điều trị chưa toàn diện. Nhiều nghiên cứu trên thế giới gần đây quan tâm nghiên cứu về việc điều trị những bệnh nhân đau thắt lưng có thay đổi Modic, các phương pháp điều trị đặc hiệu có hiệu quả được nêu ra như dùng kháng sinh, tiêm steroids nội đĩa đệm, hoặc thuốc nhóm Biophosphonates đường tĩnh mạch cũng có tác dụng với những bệnh nhân này. 

Từ tháng 5/2016 đến tháng 3/2017 nhóm tác giả nghiên cứu Tạ Hồng Nhung cùng cộng sự Bệnh viện Quân Y 103, Học viện Quân y thực hiện nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang có đối chứng báo cáo đề tài “Hiệu quả điều trị bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng có thay đổi Modic bằng biện pháp tiêm corticoid ngoài màng cứng”. Đối tượng nghiên cứu là 102 bệnh nhân tuổi từ 20 trở lên, được chẩn đoán xác định thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng điều trị nội trú tại khoa Nội thần kinh – Bệnh viện 103. Đối tượng nghiên cứu được chia làm 2 nhóm, nhóm nghiên cứu có 53 bệnh nhân có kèm theo thay đổi Modic; nhóm chứng có 49 bệnh nhân không có thay đổi Modic. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân về lâm sàng theo tiêu chuẩn chẩn đoán thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng của M. Sapotar (1970). Xét nghiệm chụp cộng hưởng từ cột sống thắt lưng xác định có hình ảnh thoát vị đĩa đệm. Tiêu chuẩn loại trừ các bệnh nhân có bệnh lý viêm đa dây thần kinh, u tủy, viêm tủy, lao, viêm nhiễm vùng cột sống thắt lưng không phải Modic, ung thư cột sống. Tác giả tính điểm lâm sàng trước và sau điều trị theo Bảng điểm lâm sàng của Bệnh viện 103 chia ra mức độ nhẹ (1-6 điểm); vừa (7-12 điểm); nặng (13-18 điểm), rất nặng (19-25 điểm). Về cận lâm sàng, thay đổi Modic là sự biến đổi tín hiệu tập trung ở bề mặt thân đốt sống và tủy xương sát đĩa đệm, dựa vào bất thường tín hiệu trên ảnh cộng hưởng từ. Tác giả chia làm 3 týp: Modic týp 1 giảm tín hiệu trên T1W và tăng tín hiệu trên T2W. Modic týp 2 tăng tín hiệu trên T1W và đồng hoặc tăng tín hiệu trên T2W. Modic týp 2 là biểu hiện của thoái hóa mỡ. Modic týp 3 là giảm tín hiệu trên cả T1W và T2W. Mô học là biểu hiện của xơ cứng xương.

Tác giả nghiên cứu xác định mức độ chèn ép ống sống trên hình ảnh cộng hưởng từ theo MSU gồm 11 mức độ thoát vị ra sau. Đánh giá kết quả sau điều trị dựa vào tiêu chuẩn MacNab và theo thang điểm lâm sàng của Bộ môn Nội Thần kinh – Học viện Quân Y với các mức độ rất tốt, tốt, vừa và kém. 

BS. Hồng Nhung phân tích báo cáo, thay đổi Modic ở đối tượng nghiên cứu gặp ở nhóm từ 30 tuổi trở lên, và nhiều nhất là nhóm 50-59 tuổi với tỷ lệ 54,7%. Thay đổi Modic ít gặp ở tuổi trẻ và tỷ lệ mắc tăng lên theo tuổi; nhóm 60 tuổi tỷ lệ gặp là 20%. Những thay đổi Modic là dấu hiệu báo động của quá trình thoái hóa liên quan đến tuổi tác làm ảnh hưởng đến cột sống thắt lưng. Tỷ lệ Modic ở nữ/nam của đối tượng nghiên cứu là 1,1/1. Thay đổi Modic týp1 và týp 2 đều gặp nhiều nhất ở bệnh nhân thoát vị đĩa đệm mắc bệnh dưới 1 năm chiếm tỷ lệ 52%. Tác giả nhận xét về mặt bệnh học, thay đổi Modic týp 1 được cho là biểu hiện của viêm và phù nề xung quanh đĩa đệm bị nhiễm khuẩn, thường gặp trong giai đoạn cấp tính của bệnh hoặc đợt cấp của đau thắt lưng mạn tính. Tác giả nghiên cứu lưu ý, thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng thường hay tái phát. Sau điều trị đặc hiệu tiêm steroid nội đĩa đệm, thay đổi Modic týp 1 không thoái triển. Khi thoát vị đĩa đệm tái phát, thay đổi Modic týp 2 có thể chuyển đổi thành thay đổi Modic týp 1. BS. Nhung cho rằng thay đổi Modic týp 1 và týp 2 đều có thể gặp ở bệnh nhân đau thắt lưng mạn tính, điều này khẳng định thời gian mắc bệnh không thật sự có mối liên quan với các loại thay đổi Modic. 

Đối với các đối tượng nghiên cứu có thay đổi Modic, báo cáo cho thấy điểm lâm sàng ở mức độ vừa đến nặng, không có mức độ nhẹ. Những người có thay đổi Modic thường có cường độ đau thắt lưng nhiều hơn người không có thay đổi Modic. Đau tăng về đêm, khi căng thẳng về thể chất và khi vận động. Trên 80% những người có thay đổi Modic bị đau thắt lưng liên tục cả ngày lẫn đêm làm ảnh hưởng đến giấc ngủ, vận động và sinh hoạt hàng ngày. 

BS. Nhung cũng lưu ý, có nhiều nghiên cứu cho thấy thay đổi Modic thường có liên quan đến gãy xương cột sống thoát vị đĩa đệm, thoái hóa đĩa đệm nặng, thoát vị Schmorl. Khi thoát vị đĩa đệm càng nặng, tân mạch phát triển mạnh xung quanh phần đĩa đệm bị lồi ra, thông qua mô này các vi khuẩn yếm khí có độc lực thấp có thể xâm nhập vào đĩa đệm bị nhiễm khuẩn cho hình ảnh thay đổi Modic trên phim cộng hưởng từ. BS. Nhung báo cáo phác đồ điều trị tiêm corticoid ngoài màng cứng điểm VAS thuyên giảm, đặc biệt nhóm thay đổi Modic týp 1 thấp hơn so với nhóm chứng (p < 0,05) nhưng chưa đạt mục tiêu điều trị. Kết quả điều trị theo Macnab nhóm nghiên cứu đạt kết quả mức vừa và kém là chủ yếu.   
Trần Hưng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 384

Số lượt truy cập: 9356915

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang