Theo các nhà quản lý y tế, tình trạng quá tải ở các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến trung ương trong toàn quốc là vấn đề nan giải, ngành Y tế có nhiều đề án, chương trình, đưa ra những giải pháp để giảm tình trạng quá tải. Một trong các giải pháp đó là triển khai mô hình bác sĩ gia đình.

Nguyên lý của mô hình bác sĩ gia đình là chăm sóc sức khỏe liên tục, toàn diện, lồng ghép, phối hợp, dự phòng, hướng tới gia đình và cộng đồng. Bác sĩ gia đình xây dựng và duy trì mối quan hệ tin cậy và lâu dài với cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Chuyên ngành y học gia đình là một thành phần trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, do bác sĩ đa khoa tổng quát đảm nhiệm, thực hiện nguyên lý hoạt động nêu trên sẽ giúp nâng cao công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân, giúp giảm tình trạng quá tải ở tuyến trên hiệu quả và bền vững.
Từ tháng 01/2017 đến tháng 3/2017, nhóm tác giả nghiên cứu Hà Hữu Tùng cùng cộng sự bệnh viện đa khoa Nông nghiệp thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Thực trạng hiểu biết về bác sĩ gia đình và việc sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người bệnh tại bệnh viện đa khoa Nông nghiệp năm 2017”. Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, những phụ huynh có trẻ em dưới 18 tuổi đến khám tại khoa khám bệnh bệnh viện đa khoa Nông nghiệp. Có 400 đối tượng nghiên cứu phù hợp được mời tham gia nghiên cứu. Tác giả nghiên cứu lấy số liệu tiếp tục từng ngày, trừ ngày nghỉ.
BS Tùng báo cáo, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là sinh sống ở các huyện ngoại thành Hà Nội, trình độ văn hóa chủ yếu dưới cấp cao đẳng, đời sống kinh tế gia đình hạn chế; số hộ gia đình giàu chiếm tỷ lệ 0,2%; nhóm nghèo, cận nghèo chiếm tỷ lệ 11%; nhóm kinh tế trung bình chiếm phần lớn với 64,2%. Các đối tượng nghiên cứu ít quan tâm đến các vấn đề xã hội, ít quan tâm những loại hình cung cấp dịch vụ mới như loại hình khám, quản lý sức khỏe theo mô hình của phòng khám bác sĩ gia đình (tại Việt Nam mô hình phòng khám bác sĩ gia đình được triển khai từ năm 2013). Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu chưa biết mô hình phòng khám bác sĩ gia đình là 58,8%; riêng trong nhóm có trình độ học vấn từ dưới trung học cơ sở trở xuống có 74,4% không biết về mô hình bác sĩ gia đình.
BS Tùng chia sẻ, một trong những thói quen lối sống của người dân là hay tin và làm theo những lời khuyên của những người đồng cảnh ngộ, trong nghiên cứu, tỷ lệ người bị bệnh không đi khám mà tự mua thuốc tại các nhà thuốc địa phương hoặc là xin thuốc của những người thân quen. Có đến 34,2% đối tượng nghiên cứu cho rằng không cần điều trị tại các cơ sở y tế. Trong nghiên cứu có 2/3 đối tượng nghiên cứu khi điều trị tại bệnh viện phải vay mượn hoặc bán tài sản để chi trả tiền viện phí.
Tác giả nghiên cứu phân tích, tuy điều kiện khó khăn, trình độ nhận thức hạn chế, kinh tế thu nhập mức thấp, nhưng phần lớn đối tượng nghiên cứu lại muốn được khám và điều trị tại nhà với 50,8%, đối tượng nghiên cứu muốn được tư vấn sức khỏe tại nhà chiếm 60,8%. Đối tượng nghiên cứu muốn được quản lý sức khỏe tại gia đình chiếm tỷ lệ 54,5%.

Đối với nhu cầu khám chữa bệnh tại trạm y tế xã, tỷ lệ trong nghiên cứu chỉ là 15,2%; phần lớn đối tượng nghiên cứu chọn khám chữa bệnh tại bệnh viện tuyến huyện cho đến tuyến trung ương và các cơ sở y tế tư nhân. Tác giả nghiên cứu cho rằng hiện nay việc sử dụng các loại hình dịch vụ y tế của người dân còn bất cập do nhiều nguyên nhân; trong đó có sự chồng chéo về chức năng, phân tuyến không rõ ràng, chất lượng cung cấp dịch vụ không đồng đều, đặc biệt là chất lượng khám chữa bệnh tại tuyến y tế cơ sở. Bên cạnh đó công tác truyền thông giáo dục sức khỏe mô hình bác sĩ gia đình tại cộng đồng chưa đầu tư đúng mức, còn hạn chế nên chưa thay đổi nhận thức của người dân về vấn đề quản lý bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho chính mình và gia đình mình.
BS Hà Hữu Tùng có kết luận, đối tượng nghiên cứu có sự hiểu biết chung về công tác khám chữa bệnh còn thấp, đặc biệt là thiếu thông tin về dịch vụ theo mô hình bác sĩ gia đình, nhu cầu của đối tượng nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe là rất cao, đặc biệt là nhu cầu khám chữa bệnh và quản lý sức khỏe tại nhà. Nguyên nhân người dân chưa sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh theo mô hình bác sĩ gia đình là do thiếu thông tin đầy đủ về mô hình này. Thực tế hiện nay người dân sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh ban đầu tại các tuyến bệnh viện và phòng khám tư nhân, rất ít khám tại trạm y tế do thiếu niềm tin về chất lượng cải cách dịch vụ.
Tác giả nghiên cứu khuyến nghị xã hội cần thông tin truyền thông nhiều hơn về mô hình bác sĩ gia đình, các phòng khám bác sĩ gia đình không nên gộp chung với trạm y tế xã, với chức năng lẫn lộn bác sĩ vừa khám chữa bệnh vừa làm công tác y học dự phòng.
Lâm Quyên