[Đăng ngày: 31/05/2018]
Các nghiên cứu ở trong và ngoài nước đều cho thấy căn nguyên vi khuẩn nhiễm khuẩn tiết niệu chiếm tỷ lệ cao là các trực khuẩn đường ruột, đứng đầu là E.coli. Ở Việt Nam, tình trạng vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh hiện đang ở mức báo động. Sự xuất hiện các chủng Staphylococcus aureus kháng methicillin, các chủng Enterobacteriaceae sinh beta lactamase phổ rộng, các trực khuẩn Gram âm như Pseudomonas aeruginosava Acinetobacter đa kháng làm cho việc điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu ngày một khó khăn.

Việc nghiên cứu căn nguyên gây nhiễm khuẩn tiết niệu và tính kháng thuốc của vi khuẩn phân lập được là cần thiết, giúp cho các thầy thuốc lâm sàng có phương hướng sử dụng kháng sinh hợp lý, làm giảm chi phí điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu.

Từ tháng 01/2014 đến tháng 12/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Đinh Thị Huyền Trang cùng cộng sự Trường Đại học Y dược Thái Bình, Bệnh viện Quân Y 103 thực hiện nghiên cứu đề tài “Căn nguyên và tính kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn nhiễm khuẩn tiết niệu phân lập tại Bệnh viện Quân Y 103”.

Theo tác giả nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu là các mẫu nước tiểu của các bệnh nhân có chỉ định cấy nước tiểu đến khám và điều trị tại Bệnh viện Quân Y 103 từ tháng 01/2014 đến tháng 12/2016. Bệnh phẩm được lấy theo chỉ định của bác sỹ lâm sàng, nuôi cấy và định danh vi khuẩn theo hướng dẫn của WHO, thực hiện kháng sinh đồ theo CLSI.

Tác giả nghiên cứu báo cáo, trong giai đoạn 2014-2016, thu thập 950 mẫu nước tiểu của bệnh nhân có chỉ định cấy khuẩn, tỷ lệ phát hiện nhiễm khuẩn tiết niệu là 261 bệnh nhân (chiếm 27,5%). Tác giả đã tiến hành nuôi cấy, phân lập vi khuẩn và xác định tính kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn phân lập được.

Theo báo cáo, nhiễm khuẩn tiết niệu do các vi khuẩn Gram âm (65,5%) nhiều hơn so với các vi khuẩn Gram dương (34,5%). Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu đã công bố về căn nguyên vi khuẩn gây nhiễm khuẩn tiết niệu ở trong và ngoài nước.

Về vi khuẩn gây nhiễm khuẩn tiết niệu, Ecoli là loài vi khuẩn gây nhiễm khuẩn tiết niệu chiếm tỷ lệ cao nhất (26,8%), tiếp theo là Enterococus spp (14,6%), Preudomonas spp đứng thứ ba (9,2%), S. aureus và Acinetobacter spp chiếm tỷ lệ tương đương nhau (7,7% và 7,3%). Kết quả này phù hợp với kết quả của một số nghiên cứu đã công bố khi chỉ ra E.coli là nguyên nhân hang đầu gây nhiễm khuẩn tiết niệu. Tỷ lệ Enterococus và Preudomonas trong nghiên cứu cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Trần Thị Thanh Nga tại Bệnh viện Chợ Rẫy.

Tác giả nghiên cứu cho biết, tính kháng kháng sinh của Ecoli đó là, Ecoli kháng cao với kháng sinh như: ampicillin (81,2%), nhóm cephalosporin (dao động 65,4-69,7%) và quinolone (dao động từ 70,6-75%), kháng trimethoprin/sulfamethoxazol (76,6%) so sánh với kết quả của nghiên cứu của Trần Thị Thanh Nga tại Bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy vi khuẩn này cũng đề kháng cao với ciprofloxacin (79,8%), ceftriaxon (74,9%), ceftazidime (54%), nhạy với nhóm aminoside và carbapenem trên 80%. Theo nghiên cứu của Đặng Mỹ Hương, vi khuẩn kháng với cephalosporin trên 50%, nhạy với imipenem 97,3%, nitrofurantoin 83,5%. Như vậy kết quả của nghiên cứu cũng như các tác giả khác phản ánh tình trạng cuả chủng E.coli đã đề kháng cao với hầu hết kháng sinh thông thường và còn nhạy cảm cao với nhóm carbapenem, amikacin, fosfomycin và nitrofurantoin.
Còn đối với Enterococcus đề kháng với nhiều loại kháng sinh: ciprofloxacin 82,8%; norflaxacin 80%, erythromycin 82,4%, chloramphenicol 66,7%, doxycyline 54,5%. Đặc biệt Enterococcus đã kháng với vancomycin với tỷ lệ 27,2%. Nguy cơ lớn nhất của Enterococcus kháng vancomycin là chúng có khả năng truyền vật liệu di truyền kháng vancomycin cho các cầu khuẩn Gram dương khác, đặc việt là Staphylococcus làm nguy cơ xuất hiện các chủng tụ cầu kháng vancomycin.

Pseudomonaspp đã đề kháng cao với các loại kháng sinh như; norfloãcin 72,2%, levofloxacin 66,7%, ciprofloxacin 65,3%, aztreonam 66,7%, piperacillin 62,5%; gentamicin 52,6%. Vi khuẩn chỉ còn nhạy cảm cao với colistin (72,2%). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu về nhiễm khuẩn tiết niệu ở bệnh viện TWQĐ 108 của Phan Thị Thu Hương. Pseudômnas spp, đặc biệt là P.aeruginosa là một trong những tác nhân quan trọng trong nhiễm khuẩn bệnh viện và có tỷ lệ đề kháng kháng sinh cao trong số các vi khuẩn gây bệnh hiện nay. Các kháng sinh nhóm carbapenem đã bị kháng với tỷ lệ cao 39,2% với meropenem và 43,5% với imipenem. Điều đó có nghĩa là điều trị bệnh do vi khuẩn này cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn bởi kháng sinh nhóm carbapenem được coi là vũ khí hữu hiệu để điều trị bệnh do P.aeruginosa gây nên.

Tác giả nghiên cứu kết luận: (1) Căn nguyên gây nhiễm khuẩn tiết niệu chủ yếu vẫn là vi khuẩn Gram âm (65,5%). Trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là E.coli 26,8%, tiếp đến là Enterococcus spp 14,6%, Pseudomonas spp 9,2%, S. aureus 7,7%, Acinetobacter spp 7,3%. (2) Tính kháng kháng sinh của một số chủng vi khuẩn thường gặp: E.coli kháng cao với các kháng sinh như ampicillin (81,2%), nhóm cephalosporin (dao động từ 65,4-69,7%) và quinolone (dao động từ 70,6-75%), kháng trimethoprim/sulfamethoxazol (76,7%). Pseudomonas spp: đề kháng với các kháng sinh như norfloxacin 72,2%, lovofloxacin 66,7%, ciprofloxacin 65,3%, aztreonam 66,7%, piperacillin 62,5%, gentamicin 52,6%. Enterococcusspp: kháng với hầu hết các kháng sinh cipfloxacin 82,8%, norfloxacin 80%; erythromycin 82,4%; chloramphenicol 66,7%; doxycyline 54,5%. 
Ngô Thanh
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 332

Số lượt truy cập: 9355873

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang