Tự điều trị (Self-medication) đồng nghĩa sử dụng thuốc không kê đơn bác sĩ là loại hình thông dụng nhất của tự chăm sóc (self-care).
Người bệnh hướng tới độc lập hơn trong công việc đưa ra các quyết định tự kiểm soát các bệnh nhẹ thông thường và giúp giảm chi phí điều trị. Người bệnh có thể truy cập thông tin tìm hiểu về các thuốc không kê đơn. Tuy nhiên, tự điều trị có thể gặp phải những rủi ro như thiếu kiến thức chẩn đoán sai, sử dụng liều lượng thuốc quá nhiều, thời gian sử dụng kéo dài, tương tác thuốc vì sử dụng đa thuốc.
Từ tháng 6/2015 đến tháng 6/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Ngọc Vân cùng cộng sự trường Đại học Y Dược Cần Thơ thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích và can thiệp báo cáo đề tài “Nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc không có đơn của hộ gia đình và đánh giá kiến thức, thực hành trước và sau can thiệp cộng đồng của người dân tại thị trấn Thới Lai, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ”.

Tác giả nghiên cứu báo cáo phân tích, nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hộ gia đình sử dụng thuốc không có đơn điều trị bệnh là 45,8%, cho thấy phần lớn người dân vẫn tự chăm sóc điều trị cho bản thân trước khi nhờ can thiệp của cơ sở y tế. Kết quả này khá tương đồng với kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Trọng Đàm và cộng sự (2004), tỷ lệ hộ gia đình mua thuốc không có đơn ở quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh chiếm 58,2%. Còn theo nghiên cứu của các tác giả Trần Văn Phú Lâm (2014) tại quận Ninh Kiều, Cần Thơ thì tỷ lệ hộ gia đình mua thuốc không có đơn chiếm tỷ lệ khá cao là 73,55%. Từ đây cho thấy người dân ở thành phố trung tâm như quận Ninh Kiều và thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ hộ gia đình mua thuốc không có đơn cao hơn nhiều so với thuốc có đơn.
Theo tác giả nghiên cứu, kiến thức chung đúng của người dân thị trấn Thới Lai về thuốc không kê đơn khá thấp (7,9%) tương tự với nghiên cứu của Kasabe Gauri H. và cộng sự năm 2015 tại Ấn Độ, tỷ lệ người dân có kiến thức sai về sử dụng kháng sinh như thuốc không có đơn chiếm 73,3%, đặc biệt hơn nữa là 86,67% sinh viên Y sử dụng kháng sinh như thuốc không có đơn. Thực hành chung đúng của người dân về thuốc không có đơn chiếm tỷ lệ 68,7%, có thể do người dân thực hành sử dụng thuốc dưới sự tư vấn của người bán thuốc hoặc nhân viên y tế chứ bản thân chưa có kiến thức đúng về những thuốc sử dụng, hoặc việc sử dụng thuốc xuất phát từ sự trải nghiệm trong quá khứ.

Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thực hành của người dân về thuốc không kê đơn trước và sau can thiệp. Về kiến thức, nghiên cứu cho thấy trước can thiệp tỷ lệ người dân có kiến thức chung đúng về thuốc không kê đơn đạt tỷ lệ rất thấp là 7,9%, sau can thiệp bằng phương pháp “Thông tin, giáo dục, truyền thông – IEC”, tỷ lệ người dân có kiến thức chung đúng về thuốc không kê đơn tăng lên 43,4% nhưng vẫn chưa được trên 50%. Do đó, nhóm Hughes đề xuất chiến lược tối đa hóa lợi ích và giảm thiểu rủi ro tự điều trị bằng thuốc không kê đơn, các quốc gia cần có hệ thống giám sát sử dụng thuốc không kê đơn hợp lý, an toàn tại nơi cung cấp, tăng cường sự hợp tác tiếp xúc giữa các bệnh nhân, bác sĩ, dược sĩ và cán bộ y tế có nhiệm vụ cung cấp thông tin, giáo dục, truyền thông cho người dân về cách dùng thuốc an toàn. Ngoài chiến lược của nhóm Hughes đề xuất, Tổ chức Y tế Thế giới-WHO cũng yêu cầu nâng cao kiến thức người dân về các loại thuốc không kê đơn nói chung và sử dụng thuốc thông minh hơn. Các nước ngày càng chấp nhận rộng rãi tự điều trị cũng như vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe.
Về thực hành, trước can thiệp tỷ lệ người dân có thực hành chung đúng về thuốc không kê đơn là 68,7%, sau can thiệp bằng phương pháp “Thông tin, giáo dục, truyền thông – IEC”, tỷ lệ người dân có thực hành chung đúng về thuốc không kê đơn tăng lên 94,2%. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc thực hành sử dụng thuốc không đơn giản chỉ dựa vào những trải nghiệm sẵn có mà đòi hỏi người dân phải được trang bị đầy đủ kiến thức cơ bản về sử dụng thuốc và đề cao trách nhiệm của bản thân trong việc thực hành sử dụng thuốc cho chính mình và người thân trong gia đình.
Tác giả nghiên cứu có kết luận, tỷ lệ hộ gia đình sử dụng thuốc không kê đơn để điều trị bệnh là 54,2%, Tỷ lệ người dân có kiến thức chung đúng về thuốc không kê đơn là 7,9%, có thực hành chung đúng về thuốc không kê đơn là 68,7%.
Trước can thiệp, kiến thức chung đúng của người dân về thuốc không kê đơn là 7,9%, sau can thiệp bằng phương pháp IEC, kiến thức chung đúng được tăng lên 43,4% (p<0,001). Trước can thiệp, thực hành chung đúng của người dân về thuốc không kê đơn là 68,7%, sau can thiệp bằng phương pháp IEC, thực hành chung đúng được tăng lên 94,2% (p<0,001). Đây là cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo trong việc nhân rộng mô hình này.
Nguyên Khải