Theo các chuyên gia dinh dưỡng, các hiểu biết về sinh bệnh học của thấp còi còn có nhiều hạn chế nên cơ chế tác động của các can thiệp cải thiện tăng trưởng chiều cao và dự phòng thấp còi ở trẻ cũng còn nhiều tranh cải. Các chuyên gia đã tổng quan các hiểu biết hiện tại về cơ chế bệnh sinh của thấp còi, từ đó đưa ra nhận định về các cửa sổ cơ hội cho các can thiệp giảm suy dinh dưỡng thấp còi và cải thiện tầm vóc.
Theo các chuyên gia dinh dưỡng, trẻ sơ sinh khỏe mạnh có thể đạt tới tốc độ tăng trưởng tối đa khi được 6 tháng tuổi. Hơn nữa, 6 tháng đầu đời là giai đoạn quan trọng để phát triển hệ thần kinh. Nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu được khuyến nghị bởi WHO từ 2001. Mặc dù lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cũng như cải thiện trí tuệ là rõ ràng nhưng bằng chứng cho hiệu quả trên tăng trưởng chiều cao hoặc suy giảm suy dinh dưỡng thấp còi còn tương đối yếu.

Đối với giai đoạn 6-24 tháng tuổi, các hạn chế về thực hành ăn bổ sung đúng cách, bổ sung đa vi chất, phòng chống nhiễm khuẩn và thực hành vệ sinh nước sạch môi trường được xác định là các yếu tố nguy cơ có thể ảnh hưởng đến phát triển chiều cao của trẻ. Trong khi đó, giai đoạn này được đánh giá là một trong những cửa sổ cơ hội cuối cùng (khi trẻ đạt 24 tháng tuổi) có thể tác động can thiệp lên tăng trưởng tầm vóc và giảm suy dinh dưỡng thấp còi. Thời kỳ 6-24 tháng tuổi là một giai đoạn quan trọng cho trẻ trong phát triển tầm vóc đó cũng là khoảng thời gian có tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi cao nhất ở các nước đang phát triển, do giai đoạn này trẻ có nhu cầu cao về các chất dinh dưỡng nhưng lại bị hạn chế về số lượng và chất lượng của thực phẩm ăn bổ sung. Nuôi dưỡng trẻ ăn bổ sung liên quan đến thời gian bắt đầu cho trẻ ăn dặm an toàn và đảm bảo về dinh dưỡng bên cạnh việc tiếp tục cho trẻ bú mẹ. Đa số các can thiệp về thấp còi đều tập trung vào cải thiện thực hành chăm sóc cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (infant and young child feeding-IYCF) là những thực hành còn chưa được thực hiện tốt ở rất nhiều nơi.

Thiếu vitamin A, kẽm, sắt và I ốt và thiếu đa vi chất thường được tìm thấy trên cùng một đứa trẻ, tác động lên nhiều khía cạnh như thể chất, chức năng về thần kinh và miễn dịch. Có khoảng 2 tỷ người có nguy cơ bị thiếu vi chất trên toàn cầu. Một tổng quan hệ thống về các loại bổ sung vi chất đã cho thấy có rất ít nghiên cứu đánh giá về tăng trưởng chiều cao, không có nghiên cứu nào nói về hiệu quả của bổ sung vi chất lên cải thiện tầm vóc của trẻ và tổng quan cũng cho thấy trẻ được ăn bột có bổ sung vi chất có thể gặp tiêu chảy. Bổ sung kẽm hàng ngày (10 mg/ngày) trong vòng 24 tuần có thể làm tăng 0,38cm chiều cao trung bình. Các nghiên cứu phân tích mối liên quan của vitamin A đối với tăng trưởng chiều cao thường không có các kết quả rõ ràng đối với cải thiện tầm vóc. Như vậy, trong khi trẻ thấp còi thường thiếu một hoặc nhiều vi chất thì các can thiệp bổ sung vi chất đối với giảm suy dinh dưỡng thấp còi, tuy đã được ghi nhận có hiệu quả nhưng cần được tập trung nghiên cứu thêm bằng các thiết kế nhiên cứu mạnh hơn.
Tiêu chảy là một trong những nhiễm khuẩn phổ biến nhất ở trẻ em, đặc biệt ở những nơi có điều kiện vệ sinh và môi trường không tốt, mặc dù các nghiên cứu trước đây tương đối trái ngược nhau khi kết luận tiêu chảy có tác động hay không tác động lên thấp còi ở trẻ. Tác động của tiêu chảy có thể xảy ra trong ngắn hạn vì bắt kịp đà tăng trưởng có thể xảy ra ở các giai đoạn khác nhau. Phân tích số liệu nghiên cứu cộng đồng ở 9 nước về tần suất tiêu chảy kết hợp với đánh giá nhân trắc cho thấy nguy cơ thấp còi ở trẻ 24 tháng tuổi tăng lên gấp nhiều lần, phụ thuộc vào số lần bị tiêu chảy. Xét về tổng thể, 25% thấp còi ở trẻ là do bị tiêu chảy từ 5 lần trở lên. Trong một nghiên cứu thuần tập gần đây trên 7 nhóm đối tượng, số ngày bị tiêu chảy tích lũy có tác động nhỏ hơn, nhưng có thể đánh giá được lên chiều cao của trẻ: một đứa trẻ với tổng thời gian bị tiêu chảy vào khoảng 23 ngày/tháng sẽ có nguy cơ giảm 0,38cm chiều cao vào lúc 2 tuổi, so với những trẻ không bị tiêu chảy.
Có các bằng chứng rằng nhiễm khuẩn tiền lâm sàng với các tác nhân gây bệnh đường ruột bao gồm nhiễm ký sinh trùng đường ruột là phổ biến, thậm chí khi không có biểu hiện lâm sàng của tiêu chảy. Trong các diều kiện của nghèo đói, trẻ thường phơi nhiễm với các tác nhân gây bệnh do các đường lây truyền phân-miệng và thường có các thay đổi về cấu trúc và chức năng đường ruột. Các thay đổi có thể là teo nhung mao ruột và viêm nhiễm mãn tính của ruột non gây ra giảm hấp thu và giảm khả năng trưởng thành ruột ở trẻ. Các thay đổi này, đặc biệt là giảm khả năng trưởng thành ruột nếu xảy ra ở trẻ có nhu cầu dinh dưỡng cao hoặc tăng trưởng nhanh có thể gây ra thấp còi. Các nghiên cứu và tổng quan gần đây tập trung vào đánh giá mối liên quan giữa viêm nhiễm đường ruột với thấp còi và đi đến kết luận dường như mối liên quan giữa mức độ trưởng thành ruột là quan trọng hơn biểu hiện lâm sàng của tiêu chảy trong cơ chế bệnh sinh của thấp còi. Vì thế, thấp còi hiện nay được coi như là một bệnh cảnh viêm nhiễm mạn tính, một phần từ cơ chế bệnh sinh của đường ruột. Vì tổn thương đường ruột thường xảy ra ở trẻ bị tiêu chảy, suy dinh dưỡng cấp tính nặng, nhiễm HIV và thiếu đa vi chất nên các nguyên nhân này thường đan xen và có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng của trẻ, đặc biệt ở những vùng nghèo..
Hoa Phượng